Some cities create housing areas by providing taller buildings. Others create housing by building houses on a wider area of land. Which solution is better?
Some cities create housing areas by providing taller buildings. Others create housing by building houses on a wider area of land. Which solution is better?
Câu hỏi trong đề: 2000 câu trắc nghiệm tổng hợp Tiếng Anh 2025 có đáp án !!
Quảng cáo
Trả lời:
Hướng dẫn giải:
Gợi ý 1:
The debate between vertical expansion—constructing taller buildings—and horizontal expansion—developing housing across a wider geographical area—is a central challenge in modern urban planning. In my view, building taller residential towers is a significantly better solution because it preserves vital natural and agricultural land, delivers more efficient public infrastructure, and curbs urban sprawl.
On the one hand, developing housing over a wider area of land offers certain localized lifestyle advantages. Sprawling residential neighborhoods allow for detached houses with private backyards, lower population densities, and a quieter living environment, which many families traditionally prefer. However, this horizontal approach comes with severe systemic drawbacks. Urban sprawl consumes massive amounts of arable land and natural habitats, destroys surrounding ecosystems, and drastically increases the economic and environmental costs of delivering utilities such as water, electricity, and public transport to distant suburbs.
On the other hand, creating housing through taller buildings addresses these modern urban crises far more effectively. High-rise developments maximize limited land space within cities, accommodating large populations in a compact footprint. This density makes public transportation networks, schools, and healthcare facilities much more viable and efficient to operate. Furthermore, vertical building leaves surrounding rural and green land untouched, protecting forests and agricultural zones from being paved over. While high-density living can occasionally face challenges regarding privacy, modern architectural planning can easily mitigate these issues through smart design and shared communal parks.
In conclusion, while horizontal housing provides individual spaciousness, it is environmentally and economically unsustainable for growing populations. Building taller structures is a much superior strategy, as it promotes sustainable land use, optimizes public infrastructure, and protects the environment.
(Cuộc tranh luận giữa việc mở rộng theo chiều dọc—xây dựng các tòa nhà cao hơn—và mở rộng theo chiều ngang—phát triển nhà ở trên một khu vực đất rộng lớn hơn—là một thách thức trung tâm trong quy hoạch đô thị hiện đại. Theo quan điểm của tôi, việc xây dựng các tòa nhà dân cư cao tầng là giải pháp tốt hơn đáng kể vì nó bảo tồn đất tự nhiên và nông nghiệp quan trọng, cung cấp cơ sở hạ tầng công cộng hiệu quả hơn và hạn chế tình trạng đô thị hóa lan rộng. Một mặt, việc phát triển nhà ở trên một khu vực đất rộng hơn mang lại những lợi thế về lối sống cục bộ nhất định. Các khu dân cư lan rộng cho phép có những ngôi nhà tách rời với sân sau riêng, mật độ dân số thấp hơn và môi trường sống yên tĩnh hơn, mà nhiều gia đình theo truyền thống thích hơn. Tuy nhiên, cách tiếp cận theo chiều ngang này đi kèm với những nhược điểm mang tính hệ thống nghiêm trọng. Sự bành trướng đô thị tiêu thụ lượng lớn đất canh tác và môi trường sống tự nhiên, phá hủy các hệ sinh thái xung quanh và làm tăng đáng kể chi phí kinh tế và môi trường của việc cung cấp các tiện ích như nước, điện và giao thông công cộng cho các vùng ngoại ô xa xôi. Mặt khác, việc tạo ra nhà ở thông qua các tòa nhà cao hơn giải quyết các cuộc khủng hoảng đô thị hiện đại này hiệu quả hơn nhiều. Các dự án phát triển cao tầng tối đa hóa không gian đất hạn chế trong các thành phố, đáp ứng dân số lớn trong một diện tích nhỏ gọn. Mật độ này làm cho các mạng lưới giao thông công cộng, trường học và cơ sở y tế có tính khả thi và hiệu quả hơn nhiều trong vận hành. Hơn nữa, việc xây dựng theo chiều dọc để lại đất nông thôn và đất xanh xung quanh không bị chạm tới, bảo vệ các khu rừng và khu vực nông nghiệp khỏi bị bê tông hóa. Mặc dù cuộc sống mật độ cao đôi khi có thể đối mặt với những thách thức liên quan đến quyền riêng tư, quy hoạch kiến trúc hiện đại có thể dễ dàng giảm thiểu các vấn đề này thông qua thiết kế thông minh và cônganh viên chung. Tóm lại, trong khi nhà ở theo chiều ngang cung cấp sự rộng rãi cá nhân, nó lại không bền vững về mặt môi trường và kinh tế đối với dân số đang gia tăng. Xây dựng các cấu trúc cao hơn là một chiến lược vượt trội hơn nhiều, vì nó thúc đẩy việc sử dụng đất bền vững, tối ưu hóa cơ sở hạ tầng công cộng và bảo vệ môi trường.)
Gợi ý 2:
The question of whether cities should expand vertically with high-rise buildings or horizontally across wider land expanses to meet housing demands is crucial for sustainable development. I firmly believe that building upwards is the superior choice because it optimizes land utilization, minimizes ecological destruction, and supports cost-effective municipal services.
Horizontal urban expansion is often favored for providing suburban tranquility and spacious living conditions. Families can enjoy detached properties, greater privacy, and expansive yards. Nevertheless, this strategy promotes unsustainable outward growth. Widening a city’s footprint demands extensive clearance of forests and agricultural acreage, which accelerates biodiversity loss. Moreover, low-density horizontal housing creates car-dependent communities, leading to severe traffic congestion, massive carbon emissions, and exorbitant public expenditure required to install long-distance utility pipelines and road networks.
In contrast, vertical housing solutions offer profound advantages for modern metropolises. By housing thousands of residents within a footprint that takes up minimal ground space, vertical development preserves natural landscapes outside urban centers. It also creates compact communities where public transport hubs, commercial centers, and essential services can be clustered efficiently, reducing the need for private vehicles. Although living in high-rises can sometimes present acoustic insulation or community management issues, rigorous urban planning and strict building codes can easily resolve them.
In conclusion, while horizontal living appeals to those seeking space, the long-term environmental degradation and financial burdens it causes make it unviable. Building taller structures is a far more rational and sustainable path forward for accommodating urban populations.
(Câu hỏi liệu các thành phố nên mở rộng theo chiều dọc với các tòa nhà cao tầng hay theo chiều ngang trên diện tích đất rộng hơn để đáp ứng nhu cầu nhà ở là rất quan trọng đối với phát triển bền vững. Tôi kiên quyết tin rằng việc xây dựng hướng lên trên là sự lựa chọn vượt trội vì nó tối ưu hóa việc sử dụng đất, giảm thiểu sự tàn phá sinh thái và hỗ trợ các dịch vụ đô thị tiết kiệm chi phí. Sự mở rộng đô thị theo chiều ngang thường được ưa chuộng vì mang lại sự yên tĩnh vùng ngoại ô và điều kiện sống rộng rãi. Các gia đình có thể tận hưởng các tài sản tách rời, quyền riêng tư lớn hơn và sân rộng. Tuy nhiên, chiến lược này thúc đẩy sự phát triển hướng ra ngoài không bền vững. Việc mở rộng dấu chân của một thành phố đòi hỏi phải giải phóng diện tích lớn rừng và đất nông nghiệp, điều này làm tăng tốc độ mất đa dạng sinh học. Hơn nữa, nhà ở theo chiều ngang mật độ thấp tạo ra các cộng đồng phụ thuộc vào ô tô, dẫn đến tình trạng tắc nghẽn giao thông nghiêm trọng, lượng khí thải carbon khổng lồ và chi phí công quá đắt đỏ cần thiết để lắp đặt các đường ống tiện ích đường dài và mạng lưới đường bộ. Ngược lại, các giải pháp nhà ở theo chiều dọc mang lại lợi ích sâu sắc cho các đô thị hiện đại. Bằng cách chứa hàng ngàn cư dân trong một dấu chân chiếm không gian mặt đất tối thiểu, phát triển theo chiều dọc bảo bảo tồn cảnh quan thiên nhiên bên ngoài các trung tâm đô thị. Nó cũng tạo ra các cộng đồng nhỏ gọn nơi các trung tâm giao thông công cộng, trung tâm thương mại và các dịch vụ thiết yếu có thể được tập hợp lại một cách hiệu quả, làm giảm nhu cầu về xe cá nhân. Mặc dù sống trong các tòa nhà cao tầng đôi khi có thể trình bày các vấn đề cách âm hoặc quản lý cộng đồng, quy hoạch đô thị nghiêm ngặt và các quy chuẩn xây dựng nghiêm ngặt có thể dễ dàng giải quyết chúng. Tóm lại, trong khi cuộc sống theo chiều ngang thu hút những người tìm kiếm không gian, sự suy thoái môi trường lâu dài và gánh nặng tài chính mà nó gây ra khiến nó không khả thi. Xây dựng các cấu trúc cao hơn là con đường hợp lý và bền vững hơn nhiều để đáp ứng dân số đô thị.)
Hot: Giáo án năng lực số, PPT AI khởi động lớp 1-12 (Update 2026) (chỉ từ 150k). Tải ngay
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Lời giải
Hướng dẫn giải:
Gợi ý 1:
It is often argued that inherent psychological and physical differences between men and women make certain occupations more suitable for specific genders. While I acknowledge that some biological disparities exist, I strongly disagree with the notion that these differences should rigidly dictate career suitability, as modern professions rely primarily on competence and individual adaptability rather than gender stereotypes.
On the one hand, proponents of gender-specific job roles argue that biological and traditional attributes can influence occupational performance. For instance, roles requiring immense physical strength, such as construction or heavy machinery operation, have historically been dominated by men due to average physiological advantages. Conversely, nurturing or caregiving professions like nursing or early childhood education have often been associated with women, who are socially or biologically perceived as possessing higher levels of empathy. From this perspective, acknowledging such natural inclinations can sometimes lead to efficiency or a smoother alignment of personal traits with job demands.
On the other hand, rigidly restricting occupations based on gender is both outdated and counterproductive. In contemporary society, technological advancements and modernized training have minimized the impact of physical strength as a primary job requirement, allowing women to excel in heavy industry and engineering. Similarly, men are increasingly entering caregiving and domestic roles, breaking traditional boundaries. True job suitability should be determined by an individual's skills, qualifications, and passion rather than broad generalizations. When workplaces enforce gender barriers, they not only limit individual freedom and personal growth but also deprive industries of diverse talents.
In conclusion, while certain physical or social tendencies may occasionally align with specific jobs, I believe that capability, dedication, and talent are gender-neutral. Restricting careers based on preconceived notions of gender limits societal progress, and everyone should be granted equal opportunities to pursue any profession they choose.
(Người ta thường cho rằng những khác biệt vốn có về tâm lý và thể chất giữa nam và nữ khiến một số nghề nghiệp phù hợp hơn với từng giới tính nhất định. Mặc dù tôi thừa nhận rằng có một số sự khác biệt sinh học tồn tại, tôi kiên quyết không đồng tình với quan điểm cho rằng những khác biệt này nên quy định cứng nhắc mức độ phù hợp nghề nghiệp, vì các nghề nghiệp hiện đại chủ yếu dựa trên năng lực và khả năng thích ứng cá nhân chứ không phải định kiến giới. Một mặt, những người ủng hộ các vai trò công việc theo giới tính lập luận rằng các đặc điểm sinh học và truyền thống có thể ảnh hưởng đến hiệuσ suất nghề nghiệp. Ví dụ, các vai trò đòi hỏi sức mạnh thể chất lớn, như xây dựng hoặc vận hành máy móc hạng nặng, từ trước đến nay do nam giới chiếm ưu thế nhờ những lợi thế sinh lý trung bình. Ngược lại, các nghề nghiệp nuôi dưỡng hoặc chăm sóc như điều dưỡng hoặc giáo dục mầm non thường gắn liền với phụ nữ, những người bị coi là có mức độ đồng cảm cao hơn về mặt xã hội hoặc sinh học. Từ góc độ này, việc thừa nhận những khuynh hướng tự nhiên như vậy đôi khi có thể dẫn đến hiệu quả hoặc sự phù hợp suôn sẻ hơn giữa các đặc điểm cá nhân với yêu cầu công việc. Mặt khác, việc hạn chế cứng nhắc các nghề nghiệp dựa trên giới tính vừa lỗi thời vừa phản tác dụng. Trong xã hội đương đại, những tiến bộ công nghệ và đào tạo hiện đại đã giảm thiểu tác động của sức mạnh thể chất như một yêu cầu công việc chính, cho phép phụ nữ xuất sắc trong ngành công nghiệp nặng và kỹ thuật. Tương tự, nam giới ngày càng tham gia nhiều hơn vào các vai trò chăm sóc và gia đình, phá vỡ ranh giới truyền thống. Sự phù hợp công việc thực sự nên được quyết định bởi kỹ năng, trình độ và niềm đam mê của cá nhân thay vì những khái quát hóa rộng lớn. Khi nơi làm việc áp dụng các rào cản giới tính, họ không chỉ hạn chế sự tự do cá nhân và sự phát triển của bản thân mà còn tước đi tài nguyên nhân tài đa dạng của các ngành công nghiệp. Tóm lại, mặc dù một số xu hướng thể chất hoặc xã hội đôi khi có thể phù hợp với các công việc cụ thể, tôi tin rằng năng lực, sự cống hiến và tài năng mang tính trung lập về giới. Việc hạn chế nghề nghiệp dựa trên những quan niệm định sẵn về giới tính làm hạn chế sự tiến bộ của xã hội, và mọi người nên được trao cơ hội bình đẳng để theo đuổi bất kỳ nghề nghiệp nào họ chọn.)
Gợi ý 2:
The debate over whether certain jobs are naturally suited for men or women based on inherent qualities has persisted for decades. While traditional viewpoints suggest a strict division of labor rooted in biological differences, I completely disagree with this perspective, arguing that professional suitability is defined by personal aptitude, ambition, and skill, rather than gender.
Historically, the argument supporting gender-segregated employment relied heavily on generalizations about physical strength and emotional temperament. Jobs involving heavy manual labor were automatically assigned to men, while supportive, administrative, or care-oriented positions were funneled toward women. However, this perspective overlooks the vast diversity within each gender and the profound changes in the modern working environment. Today, automation and advanced machinery have replaced brute physical force with cognitive ability and technical proficiency in many industrial sectors. Consequently, physical attributes are no longer valid benchmarks for career exclusion.
Furthermore, framing jobs as inherently "male" or "female" creates artificial barriers that hinder individual potential and professional equity. People possess a wide array of cognitive styles, talents, and interests that transcend traditional gender binaries. When societies or employers discourage individuals from pursuing specific fields due to outdated stereotypes, they stifle innovation and limit economic productivity. Encouraging an inclusive workplace ensures that the best minds are selected for critical roles, whether it is a female aerospace engineer or a male pediatric nurse. True professional excellence is gender-blind.
In conclusion, attributing specific jobs to specific genders based on generalized qualities is flawed and regressive. Because skills, intelligence, and dedication are individual attributes rather than gender-exclusive traits, career paths should remain entirely open to anyone based on merit.
(Cuộc tranh luận về việc liệu một số công việc có thực sự phù hợp với nam hay nữ dựa trên những phẩm chất vốn có hay không đã kéo dài trong nhiều thập kỷ. Mặc dù các quan điểm truyền thống cho thấy sự phân công lao động nghiêm ngặt bắt nguồn từ những khác biệt sinh học, tôi hoàn toàn không đồng ý với quan điểm này, và lập luận rằng sự phù hợp về mặt nghề nghiệp được định nghĩa bởi năng lực cá nhân, hoài bão và kỹ năng, chứ không phải giới tính. Về mặt lịch sử, lập luận ủng hộ việc phân biệt đối xử việc làm theo giới tính phụ thuộc nhiều vào các khái quát hóa về sức mạnh thể chất và khí chất cảm xúc. Các công việc liên quan đến lao động chân tay nặng nhọc tự động được giao cho nam giới, trong khi các vị trí hỗ trợ, hành chính hoặc thiên về chăm sóc lại hướng về phụ nữ. Tuy nhiên, quan điểm này bỏ qua sự đa dạng rất lớn trong mỗi giới tính và những thay đổi sâu sắc trong môi trường làm việc hiện đại. Ngày nay, tự động hóa và máy móc tiên tiến đã thay thế sức mạnh thể chất thô sơ bằng năng lực nhận thức và sự thành thạo kỹ thuật ở nhiều lĩnh vực công nghiệp. Do đó, các đặc điểm thể chất không còn là tiêu chuẩn hợp lý để loại trừ nghề nghiệp. Hơn nữa, việc định hình các công việc mang tính chất "nam tính" hoặc "nữ tính" tạo ra các rào cản nhân tạo cản trở tiềm năng cá nhân và sự công bằng trong nghề nghiệp. Mọi người sở hữu một loạt các phong cách nhận thức, tài năng và sở thích vượt qua ranh giới giới tính truyền thống. Khi xã hội hoặc nhà tuyển dụng ngăn cản các cá nhân theo đuổi các lĩnh vực cụ thể do các định kiến lỗi thời, họ bóp nghẹt sự đổi mới và hạn chế năng suất kinh tế. Việc khuyến khích một môi trường làm việc toàn diện đảm bảo rằng những bộ óc xuất sắc nhất được lựa chọn cho các vai trò quan trọng, cho dù đó là một nữ kỹ sư hàng không vũ trụ hay một nam y tá nhi khoa. Sự xuất sắc chuyên nghiệp thực sự không phân biệt giới tính. Tóm lại, việc quy cho các công việc cụ thể cho các giới tính cụ thể dựa trên các phẩm chất chung chung là thiếu sót và thụt lùi. Bởi vì kỹ năng, trí tuệ và sự cống hiến là các thuộc tính cá nhân hơn là các đặc điểm độc quyền theo giới tính, con đường sự nghiệp nên hoàn toàn mở cửa cho bất kỳ ai dựa trên năng lực.)
Lời giải
Hướng dẫn giải:
Gợi ý 1:
The rapid proliferation of social media platforms has sparked intense debate regarding its influence on the younger generation. I completely agree that social media exerts a predominantly negative impact on young people, primarily due to its detrimental effects on mental health, the distortion of reality, and the rise of cyberbullying.
The most concerning drawback of heavy social media consumption is its severe toll on mental well-being. Platforms heavily feature idealized portrayals of peer lifestyles, physical appearances, and achievements, which frequently trigger chronic social comparison among impressionable youth. This constant exposure breeds feelings of inadequacy, low self-esteem, anxiety, and depression. Furthermore, excessive screen time disrupts healthy sleep patterns and reduces face-to-face social interactions, often leading to social isolation and loneliness despite the illusion of digital connectivity.
Another critical issue is the pervasive threat of cyberbullying. Unlike traditional bullying, online harassment can occur 24/7, leaving victims with no safe haven. The anonymity and distance provided by digital screens embolden malicious actors, leading to devastating psychological consequences for teenagers and young adults who struggle to escape online abuse. Additionally, social media algorithms are specifically designed to maximize user engagement through addictive scrolling loops, which severely shortens attention spans and distracts young people from their academic and personal responsibilities.
In conclusion, while social media offers certain educational and networking benefits, its negative impacts on youth—ranging from deep-seated mental health struggles and distorted self-image to cyberbullying and addiction—far outweigh any advantages.
(Sự bùng phát nhanh chóng của các nền tảng mạng xã hội đã châm ngòi cho cuộc tranh luận gay gắt về ảnh hưởng của nó đối với thế hệ trẻ. Tôi hoàn toàn đồng ý rằng mạng xã hội tác động chủ yếu tiêu cực đến giới trẻ, chủ yếu do những ảnh hưởng bất lợi của nó đối với sức khỏe tinh thần, sự bóp méo thực tế và sự gia tăng của nạn bắt nạt qua mạng. Nhược điểm đáng lo ngại nhất của việc tiêu thụ mạng xã hội nặng nề là cái giá nặng nề của nó đối với sự hạnh phúc tinh thần. Các nền tảng có nhiều hình ảnh lý tưởng hóa về lối sống của bạn bè, ngoại hình và thành tích, thường gây ra sự so sánh xã hội mãn tính ở những người trẻ tuổi dễ bị ảnh hưởng. Sự tiếp xúc liên tục này nuôi dưỡng cảm giác kém cỏi, lòng tự trọng thấp, lo lắng và trầm trọng. Hơn nữa, thời gian sử dụng thiết bị điện tử quá mức làm gián đoạn các kiểu ngủ lành mạnh và làm giảm các tương tác xã hội trực tiếp, thường dẫn đến sự cô lập xã hội và cô đơn mặc dù có ảo tưởng về kết nối kỹ thuật số. Một vấn đề quan trọng khác là mối đe dọa lan tràn của nạn bắt nạt qua mạng. Không giống như bắt nạt truyền thống, sự quấy rối trực tuyến có thể diễn ra 24/7, khiến nạn nhân không có nơi nào an toàn. Sự ẩn danh và khoảng cách được cung cấp bởi màn hình kỹ thuật số làm cho các tác nhân độc hại trở nên mạnh bạo hơn, dẫn đến hậu quả tâm lý tàn khốc cho thanh thiếu niên và thanh niên những người đang vật lộn để thoát khỏi lạm dụng trực tuyến. Ngoài ra, các thuật toán mạng xã hội được thiết kế đặc biệt để tối đa hóa sự tương tác của người dùng thông qua các vòng lộn xộn gây nghiện, làm rút ngắn nghiêm trọng khoảng chú ý và làm sao lãng những người trẻ tuổi khỏi trách nhiệm học tập và cá nhân của họ. Tóm lại, trong khi mạng xã hội mang lại một số lợi ích giáo dục và kết nối mạng, các tác động tiêu cực của nó đối với giới trẻ—từ các cuộc đấu tranh sức khỏe tinh thần sâu xa và hình ảnh bản thân bị bóp méo đến nạn bắt nạt qua mạng và nghiện ngập—lớn hơn nhiều so với bất kỳ ưu điểm nào.)
Gợi ý 2:
The pervasive integration of social networking sites into daily life has fundamentally altered how youth interact, learn, and perceive the world. I strongly concur with the viewpoint that social media is largely detrimental to young people, as it compromises their cognitive development, fosters superficial relationships, and exposes them to harmful content.
To begin with, the addictive nature of social media severely undermines young people's cognitive focus and productivity. The constant influx of short-form videos and rapid notifications trains the brain to crave immediate gratification, resulting in drastically reduced attention spans and difficulties with deep, sustained concentration required for academic success. Moreover, the pressure to curate a flawless digital persona creates immense psychological distress, forcing youth to measure their self-worth through quantifiable metrics like "likes" and follower counts.
Beyond individual psychological strains, social media negatively transforms the nature of human relationships. While it promises global connection, it frequently replaces genuine, empathetic interpersonal communication with superficial digital interactions. Young people may accumulate thousands of online "friends" while simultaneously experiencing profound feelings of isolation in the physical world. Compounding these issues is the exposure to unverified misinformation, unrealistic beauty standards, and online predators, which pose continuous risks to the safety and developmental growth of vulnerable adolescents.
In conclusion, the adverse consequences of social media on the younger demographic—manifested through eroded attention spans, fractured self-esteem, and social disconnection—clearly outweigh any superficial benefits it may provide.
(Sự tích hợp lan tràn của các trang mạng xã hội vào cuộc sống hàng ngày đã làm thay đổi căn bản cách giới trẻ tương tác, học hỏi và nhận thức thế giới. Tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm cho rằng mạng xã hội phần lớn là có hại cho giới trẻ, vì nó làm tổn hại đến sự phát triển nhận thức của họ, nuôi dưỡng các mối quan hệ hời hợt và đặt họ vào nội dung có hại. Trước hết, bản chất gây nghiện của mạng xã hội làm suy yếu nghiêm trọng sự tập trung nhận thức và năng suất của giới trẻ. Dòng video dạng ngắn liên tục và thông báo nhanh chóng huấn luyện bộ não khao khát sự thỏa mãn tức thì, dẫn đến việc giảm mạnh thời gian chú ý và khó khăn với sự tập trung sâu, bền vững cần thiết cho sự thành công trong học tập. Hơn nữa, áp lực phải giám tuyển một nhân vật kỹ thuật số hoàn hảo tạo ra sự đau khổ tâm lý vô cùng, buộc giới trẻ phải đo lường giá trị bản thân thông qua các số liệu có thể định lượng như "thích" và số lượng người theo dõi. Vượt ra ngoài những căng thẳng tâm lý cá nhân, mạng xã hội làm biến đổi tiêu cực bản chất của các mối quan hệ con người. Trong khi nó hứa hẹn kết nối toàn cầu, nó thường thay thế giao tiếp giữa các cá nhân chân chính, đồng cảm bằng các tương tác kỹ thuật số hời hợt. Những người trẻ tuổi có thể tích lũy hàng ngàn "bạn bè" trực tuyến đồng thời trải qua cảm giác cô lập sâu sắc trong thế giới vật chất. Làm trầm trọng thêm những vấn đề này là việc tiếp xúc với thông tin sai lệch chưa được xác minh, tiêu chuẩn sắc đẹp phi thực tế và những kẻ săn mồi trực tuyến, gây ra rủi ro liên tục cho sự an toàn và sự phát triển của lãng mạn dễ bị tổn thương. Tóm lại, hậu quả bất lợi của mạng xã hội đối với nhóm nhân khẩu học trẻ hơn—được biểu hiện thông qua khoảng chú ý bị xói mòn, lòng tự trọng bị rạn nứt và sự ngắt kết nối xã hội—rõ ràng lớn hơn bất kỳ lợi ích hời hợt nào mà nó có thể mang lại.)
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

