khoahoc.vietjack.com

Danh sách câu hỏi tự luận ( Có 625,704 câu hỏi trên 12,515 trang )

Phần IV (2 điểm). Thí sinh trả lời câu 5; viết quá trình và kết quả suy luận. Vào năm 1780, Luigi Galvani phát hiện ra rằng khi hai kim loại khác nhau (ví dụ đồng và kẽm) được kết nối và sau đó cả hai cùng chạm vào hai phần khác nhau của dây thần kinh của một con ếch, thì chân con ếch co rút. Ông gọi đây là "điện động vật". Một pin Galvani được tạo nên từ hai cặp oxi hoá - khử khác nhau ví dụ Sn2+/Sn và Zn2+/Zn. Biết: E ° S n 2 + / S n = − 0 , 1 3 V ;   E ° Z n 2 + / Z n = − 0 , 7 6 V . (a). Mô tả cấu tạo pin X được tạo nên khi ghép nối với nhau hai điện cực chuẩn trên. Hãy vẽ sơ đồ cấu tạo của pin X và chỉ rõ điện cực dương, điện cực âm và chiều di chuyển của dòng điện. (b). Tính sức điện động chuẩn của pin X. (c). Thực tế khi nồng độ của các muối thay đổi thì thế điện cực của các điện cực cũng thay đổi dẫn đến sức điện động của pin cũng thay đổi theo. Giá trị của thế điện cực kim loại ở điều kiện không chuẩn phụ thuộc vào nồng độ của cation kim loại ở điện cực theo phương trình Nernst: (với n là số electron trao đổi ở điện cực). Hãy tính tỉ lệ nồng độ của Zn2+ so với nồng độ Sn2+ ở điện cực khi pin X hết điện. (d). Một học sinh nêu giả thuyết: “Có thể tạo được pin Galvani từ hai điện cực của cùng một cặp oxi hoá - khử Zn2+/Zn”. Hãy trình bày quan điểm của em về giả thuyết trên.

Xem chi tiết 470 lượt xem 1 tháng trước

Một số hợp chất azo chứa nhóm chức azo (-N=N-) có thể tạo ra màu sắc đa dạng tùy vào cấu trúc hóa học và các nhóm thế trên vòng thơm benzene. Vì có thể tạo ra các màu sắc khác nhau nên chúng có thể được sử dụng để nhuộm vải hoặc tạo màu cho đồ ăn và mỹ phẩm. Tuy nhiên, vì một số hợp chất azo có thể thâm nhập vào cơ thể không chỉ qua da mà còn qua đường tiêu hóa, hô hấp góp phần tạo nên nguy cơ ung thư, nên việc sử dụng chúng được kiểm soát rất chặt chẽ và nghiêm ngặt. Một công ty hóa chất X liên kết với công ty may mặc Y, sản xuất ra hợp chất azo màu vàng với một lượng lớn để công ty Y nhuộm cho 3000 chiếc thảm trải sàn và 1000 chiếc túi đựng. Nguyên liệu chính mà công ty hóa chất X sử dụng là aniline và toàn bộ quá trình sản xuất được thực hiện theo sơ đồ chuyển hóa sau: Biết rằng: + Mỗi chiếc thảm trải sàn cần 1,5 m² vải với khối lượng 500 g/m². + Mỗi chiếc túi đựng cần 0,8 m² vải với khối lượng 600 g/m². + Để nhuộm 100 kg vải cần 280 gam hợp chất azo (màu vàng). + Hiệu suất quá trình (1) là 80% và hiệu suất quá trình (2) tính theo các chất phản ứng đều bằng 90%. Tổng khối lượng aniline tối thiểu mà công ty X cần sử dụng trong quá trình sản xuất là bao nhiêu kg? (Kết quả làm tròn đến hàng phần mười).

Xem chi tiết 2 K lượt xem 5 tháng trước

Phần IV (2 điểm). Thí sinh trả lời câu 5; viết quá trình và kết quả suy luận. Calcium carbonate là thành phần chính có trong vỏ trứng, vỏ sò, vỏ ốc,… Để xác định hàm lượng calcium carbonate có trong một mẫu vỏ trứng, một nhóm học sinh đã làm như sau: - Bước 1: Rửa sạch vỏ trứng bằng nước cất, sấy cho đến khi khô hoàn toàn rồi nghiền thành bột. - Bước 2: Cân chính xác 2,2 gam bột vỏ trứng rồi cho vào bình nón. Thêm 100,0 mL dung dịch hydrochloric acid 2,0M vào bình nón, đậy hờ và để trong vài giờ. - Bước 3: Lọc dung dịch trong bình nón cho vào bình định mức 250,0 mL rồi thêm nước cất đến vạch và lắc đều. - Bước 4: Cho dung dịch sodium hydroxide 1,0M vào burette 50,0 mL và điều chỉnh dung dịch trong burette về mức 0. - Bước 5: Chuyển 25,0 mL dung dịch đã chuẩn bị ở bước 3 vào bình nón, thêm vài giọt chất chỉ thị acid - base thích hợp và tiến hành chuần độ. Học sinh đã thực hiện chuẩn độ sơ bộ (bước thử trước khi chuẩn độ chính thức) rồi lặp lại chuẩn độ 3 lần nữa, kết quả thí nghiệm được ghi lại trong bảng sau:   Chuẩn độ sơ bộ Lần 1 Lần 2 Lần 3 VNaOH ban đầu (mL) 0,0 0,0 16,4 32,6 VNaOH sau chuẩn độ (mL) 16,4 16,4 32,6 48,9 (a). Viết phương trình hóa học của các phản ứng xảy ra và nêu vai trò của lần chuẩn độ sơ bộ. (b). Đưa ra 2 lý do vì sao không chuẩn độ trực tiếp calcium carbonate trong vỏ trứng bằng dung dịch HCl. (c). Học sinh lặp lại thí nghiệm chuẩn độ bằng cùng một thiết bị nhưng sử dụng dung dịch NaOH 0,10M. Giải thích lý do tại sao điều này lại gây ra hạn chế cho quy trình chuẩn độ. (d). Tính hàm lượng calcium carbonate trong mẫu vỏ trứng (làm tròn kết quả đến hàng phần trăm).

Xem chi tiết 3.4 K lượt xem 1 tháng trước

Trong dung dịch, amino acid tồn tại ở dạng ion lưỡng cực, cation hay anion tùy thuộc vào pH của dung dịch. Giá trị pH mà tại đó nồng độ dạng ion lưỡng cực đạt giá trị lớn nhất gọi là điểm đẳng điện (ký hiệu là pI). Điểm đẳng điện của các amino acid được tính theo biểu thức: p I = ( p K a 1 +   p K a 2 ) 2 . (với Ka1, Ka2 là hằng số phân li acid của các nhóm chức; pKa = -logKa) Đối với các diamino monocarboxylic hoặc monoamino dicarboxylic, pI là giá trị trung bình của hai giá trị pKa gần nhau. Cho pKa của các amino acid như sau: Amino acid pKa1 pKa2 pKa3 Alanine 2,35 9,87   Lysine 2,18 8,95 10,53 Aspartic acid 2,10 3,86 9,82 (a). Tính điểm đẳng điện của alanine, lysine, aspartic acid. (b). Viết công thức dạng ion lưỡng cực của các amino acid alanine, lysine, aspartic acid tại điểm đẳng điện. (c). Viết công thức các dạng ion chủ yếu của từng amino acid trong dung dịch ở pH = 1 và ở pH = 13. (d). Các amino acid có các điểm đẳng điện khác nhau nên ở một pH xác định, chúng sẽ di chuyển về cathode hoặc anode với những vận tốc khác nhau. Dựa trên cơ sở này người ta xây dựng phương pháp điện di để phân tích và tinh chế các amino acid từ hỗn hợp của chúng. Tính các dạng tồn tại chủ yếu của alanine và aspartic acid ở pH = 5,97. Từ đó cho biết có thể tách được 2 amino acid này bằng phương pháp điện di ở không?

Xem chi tiết 768 lượt xem 1 tháng trước