Danh sách câu hỏi tự luận ( Có 599,430 câu hỏi trên 11,989 trang )

Đọc tư liệu sau: Tư liệu. “Trước sức tấn công ồ ạt của tư bản Pháp, ngay từ đầu giai cấp phong kiến cầm quyền có trách nhiệm bảo vệ độc lập đã tỏ ra hèn nhát và bất lực, trong nội bộ có sự phân hóa thành hai phái: phái chủ chiến và phái chủ hòa. Cùng đứng trên lập trường giai cấp phong kiến thống trị, hai phái trên có cách giải quyết mâu thuẫn dân tộc khác nhau. Phái chủ chiến muốn dựa vào phong kiến Trung Quốc để đánh Pháp. Tiêu biểu cho phái “công thủ” này có Tô Linh, Phan Hữu Nghị, Trần Văn Vi, Lê Hiến Hữu, Nguyễn Đăng Điều, Hồ Sỹ Tuấn chủ trương “phải giữ và đánh, thủ để công và công để thủ, rồi quét sạch địch”; phái chủ hòa với các lập luận khác thường như “chiến không bàng hòa", “thủ để hòa”. Lập luận này của phái chủ hòa bị phái “công thủ” kịch liệt lên án". (Nguyễn Duy Thuỵ, Bàn thêm về nguyên nhân Việt Nam mất nước dưới thời Nguyễn, Tạp chí Khoa học Xã hội Tây Nguyên, số 3/2022, tr.3) a) Vua quan trong triều Nguyễn không kiên quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Pháp đến cùng. b) Thiếu sự đoàn kết, thống nhất về đường lối đấu tranh trong nội bộ triều đình là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của nhà Nguyễn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. c) Dù khác nhau về đường lối đấu tranh, nhưng cả hai phái chủ hòa và chủ chiến đều có điểm chung là: quyết tâm đánh đuổi thực dân Pháp đến cùng để bảo vệ độc lập dân tộc. d) Chủ trương đấu tranh của cả hai phái chủ hòa và chủ chiến trong nội bộ triều Nguyễn đều có những hạn chế.

Xem chi tiết 571 lượt xem 8 tháng trước

Đọc tư liệu sau: Tư liệu. “Năm 1258, khi bắt đầu đánh Trung Quốc, họ tấn công Đại Việt lần thứ nhất, mong bắn 1 mũi tên trúng 2 đích, nhưng bị thất bại. Lần đầu tiên, họ hiểu được tấn công một xứ sở sông ngòi chằng chịt và ruộng nước khác hẳn thảo nguyên Bắc Á, Trung Á và Đông Âu. Họ chuẩn bị, huy động tiềm lực của Trung Hoa - nhà Nguyên và tàu thuyền đánh Đại Việt lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1287), đồng thời với kết hợp đánh Champa. Nhưng họ đã vấp phải tinh thần bất khuất và nghệ thuật chiến tranh tài giỏi của người Việt nên đã bị thất bại thảm hại. Lần đầu tiên và duy nhất trong lịch sử thế giới, một đạo quân đánh đâu thắng đó đã bị đại bại ở Đại Việt sau 3 cuộc chiến lớn, trực tiếp, trực diện, với cả tài nghệ chiến tranh của người Mông Cổ và tiềm lực của nhà Nguyên - Trung Hoa". (Lương Ninh, Lịch sử Đông Nam Á, Nxb Giáo dục, 2008, tr.108) a) Đoạn tư liệu phản ánh về thất bại của quân Mông - Nguyên trong ba lần tấn công xâm lược Đại Việt vào thế kỉ XIII. b) Quân Mông - Nguyên không chịu từ bỏ ý đồ xâm lược Đại Việt cho đến khi nhận thất bại cuối cùng vào năm 1285. c) Địa hình hiểm trở là khó khăn duy nhất mà quân Mông - Nguyên phải đối mặt khi xâm lược Đại Việt. d) Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan góp phần đưa đến thắng lợi của quân dân Đại Việt trong ba lần kháng chiến chống quân Mông - Nguyên.

Xem chi tiết 1.6 K lượt xem 8 tháng trước

Đọc tư liệu sau: Tư liệu. “Chiến thắng Như Nguyệt lần thứ hai này vào cuối mùa xuân năm 1077. Đó là chiến thắng của trận quyết chiến chiến lược có ý nghĩa kết thúc chiến tranh. Qua lời than vãn của tướng địch ở trên cho thấy quân Tống đã ở vào cảnh thế cùng lực kiệt. Nếu còn đóng quân thì rõ ràng sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn. Nhưng rút lui thì mất thể diện của "thiên triều". Biết rõ ý chí xâm lược của giặc đã bị đè bẹp, Lý Thường Kiệt liền chủ động đưa đề nghị "giảng hòa", thực chất là mở một lối thoát cho quân Tống. Đó là chủ trương kết thúc chiến tranh mềm dẻo của Lý Thường Kiệt: "dùng biện sĩ bàn hòa, không nhọc tướng tá, khỏi tốn xương máu mà bảo toàn được tôn miếu"". (Trương Hữu Quýnh, Đại cương lịch sử Việt Nam, tập I, Nxb Giáo dục, 2005, tr.165) a) Trận đánh trên sông Như Nguyệt đã kết thúc thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Tống dưới triều đại nhà Lý. b) Lý Thường Kiệt đã kết hợp giữa mặt trận quân sự và mặt trận ngoại giao để buộc địch phải ký hòa ước mặc dù chúng đang ở thế mạnh. c) Lần đầu tiên và cũng là duy nhất trong lịch sử Việt Nam xuất hiện một phương thức kết thúc chiến tranh: trong thế thắng, ta vẫn chủ động giảng hòa, mở đường cho giặc rút về nước. d) Nghệ thuật chiến tranh của Lý Thường Kiệt vẫn có giá trị to lớn trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Xem chi tiết 3.5 K lượt xem 8 tháng trước

Đọc tư liệu sau: Tư liệu. “Khi nước triều lên, Quyền sai người đem thuyền nhẹ ra khiêu chiến, giả thua chạy để dụ địch đuổi theo. Hoằng Tháo quả nhiên tiến quân vào. Khi binh thuyền đã vào trong vùng cắm cọc, nước triều rút, cọc nhô lên Quyền bèn tiến quân ra đánh, ai nấy đều liều chết chiến đấu. Quân Hoằng Tháo không kịp sửa thuyền mà nước triều rút rất gấp, thuyền đều mắc vào cọc mà lật úp, rối loạn tan vỡ”. (Ngô Sĩ Liên và các sử thần triệu Hậu Lê, Đại Việt sử kí toàn thư, Tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr.203) a) Đoạn trích cung cấp thông tin về diễn biến chính của cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán do Ngô Quyền lãnh đạo. b) Ngô Quyền đã lợi dụng địa thế hiểm trở của vùng cửa sông Bạch Đằng và quy luật lên xuống của thủy triều để bố trí trận địa quyết chiến với quân Nam Hán. c) Hoằng Tháo đã phối hợp chặt chẽ với Ngô Quyền về thủy binh trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược bên ngoài. d) Kế sách dùng cọc nhọn đóng xuống sông để chế ngự thuyền chiến của địch là kế sách đánh giặc độc đáo trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

Xem chi tiết 9.9 K lượt xem 8 tháng trước

Trong mỗi ý a), b), c), d) ở mỗi câu, hãy chọn đúng hoặc sai. Đọc tư liệu sau: Tư liệu. “Lịch sử chống ngoại xâm vừa thử thách, vừa tôi luyện dân tộc ta. Những cuộc chiến tranh yêu nước đã tạo nên cho dân tộc ta một bản lĩnh kiên cường, một sức sống bền bỉ, mãnh liệt, đã hun đúc nên nhiều truyền thống tốt đẹp, tiêu biểu là: lòng yêu nước tha thiết, ý chí độc lập tự chủ mạnh mẽ, tinh thần đoàn kết keo sơn, chí quật cường bất khuất, trí thông minh sáng tạo,...” (Theo Phan Huy Lê,..., Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, Nxb Hồng Đức, 2019, tr.15) a) Tinh thần đoàn kết là truyền thống tiêu biểu của dân tộc Việt Nam được hun đúc nên từ lịch sử chống ngoại xâm. b) Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc có vai trò quan trọng đối với sự sinh tồn và phát triển của dân tộc Việt Nam. c) Những truyền thống tốt đẹp, tiêu biểu của dân tộc Việt Nam chỉ có thể được hình thành qua các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. d) Từ các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong lịch sử dân tộc Việt Nam đã cho thấy: nguồn lực viện trợ bên ngoài là nhân tố quyết định thắng lợi.

Xem chi tiết 11.1 K lượt xem 8 tháng trước

Trong mỗi ý a), b), c), d) ở mỗi câu, hãy chọn đúng hoặc sai. Đọc tư liệu sau: Tư liệu. “Ở Đông Nam Á, đầu những năm 30, một số Đảng Cộng sản được thành lập, mở ra một thời kỳ mới trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Riêng ở Việt Nam, cuộc khởi nghĩa Yên Bái tháng 2/1930 (do Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức) bị thất bại đã chấm dứt vai trò lãnh đạo cách mạng của giai cấp tư sản dân tộc, đồng thời cao trào cách mạng giải phóng dân tộc 1930 - 1931, mà đình cao là phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh, đã mở ra thời kỳ cách mạng Việt Nam đi theo sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và chính Đảng Mácxít - Lêninnít của nó - Đảng Cộng sản Đông Dương. Ở Philippin, cuộc khởi nghĩa nông dân chống ách bóc lột của địa chủ phong kiến gắn liền với cuộc đấu tranh chống đế quốc bùng nổ năm 1931 và đã buộc Mỹ phải trao trả quyền tự trị cho nước này. Ở Miến Điện, phong trào khởi nghĩa nông dân được diễn ra từ cuối năm 1930 đến mùa xuân năm 1932. Đầu năm 1933, ở Inđônêxia đã bùng nổ cuộc khởi nghĩa của thủy binh trên tàu chiến Đơ Giơven Porôvinxien". (Nguyễn Anh Thái (chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục, 2005, tr.127) a) Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời đã chấm dứt hoàn toàn vai trò lịch sử của giai cấp tư sản dân tộc. b) Các quốc gia Đông Nam Á đều đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân dưới sự dẫn dắt của các Đảng Cộng sản. c) Kết quả của các phong trào đấu tranh là một số nước ở Đông Nam Á đã giành được độc lập trong những năm 30 của thế kỷ XX. d) Cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Nam Á trong những năm 30 của thế kỉ XX đã góp phần làm suy yếu chủ nghĩa thực dân, tạo điều kiện giành thắng lợi ở giai đoạn tiếp theo.

Xem chi tiết 369 lượt xem 8 tháng trước

Trong mỗi ý a), b), c), d) ở mỗi câu, hãy chọn đúng hoặc sai. Đọc tư liệu sau: Tư liệu. “Ở giai đoạn này, phong trào giải phóng dân tộc chuyển sang một nấc thang phát triển mới và có những đặc điểm mới. Đó là sự phát triển song song giữa hai loại phong trào: do giai cấp tư sản dân tộc lãnh đạo và do giai cấp vô sản đứng đầu. Đây cũng là giai đoạn "bản lề" cho toàn bộ quá trình đấu tranh giành độc lập, nhất là cho giai đoạn từ sau năm 1945 trở đi. Bởi vì, giai đoạn này vừa tích luỹ lực lượng, chuẩn bị cơ sở và tạo điều kiện cho việc giành thắng lợi cho các giai đoạn tiếp theo; vừa là sự tìm kiếm, lựa chọn con đường giải phóng dân tộc. Chính sự lựa chọn đó quyết định cả con đường đi lên trong xã hội hiện đại của mỗi quốc gia trong khu vực sau khi giành được độc lập dân tộc. Nếu như trong những năm cuối thế kỷ XIX và hai thập niên đầu thế kỷ XX, những nhà lãnh đạo của các dân tộc Đông Nam Á còn chưa tìm được con đường đúng đắn, phù hợp với dân tộc để đi tới độc lập, thì đến đây họ đã tìm cho mình một hướng đi, một giải pháp phù hợp với đặc điểm, điều kiện của dân tộc mình để đạt được mục tiêu: đánh đổ chủ nghĩa thực dân, giành độc lập chính trị”. (Lương Ninh, Lịch sử Đông Nam Á, Nxb Giáo dục, 2008) a) Các nước Đông Nam Á đã sớm tìm ra và lựa chọn con đường giải phóng dân tộc đúng đắn phù hợp từ cuối thế kỷ XIX và hai thập niên đầu thế kỷ XX. b) Những thập niên đầu thế kỷ XX là giai đoạn chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc sau Chiến tranh thế giới thứ hai. c) Hai khuynh hướng cách mạng mới đã xuất hiện đồng thời và đấu tranh loại trừ nhau trong quá trình giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á. d) Các khuynh hướng đấu tranh sẽ vận động để định hình con đường phát triển của mỗi quốc gia sau khi hoàn thành đánh đuổi chủ nghĩa thực dân.

Xem chi tiết 153 lượt xem 8 tháng trước

Trong mỗi ý a), b), c), d) ở mỗi câu, hãy chọn đúng hoặc sai. Đọc các tư liệu sau: Tư liệu 1. “Chính quyền thực dân thường chia một nước hoặc vùng thuộc địa thành các vùng, miền với các hình thức cai trị khác nhau, và do đó, cư dân mỗi vùng trong một nước lại chịu nhiều hình thức cai trị khác nhau, tạo ra sự mâu thuẫn giữa họ với nhau để thực dân dễ bề cai trị,…”. (Lương Ninh (Chủ biên), Lịch sử Đông Nam Á, NXB Giáo dục, 2005, Tr.233-234) Tư liệu 2. “Chính quyền thực dân bán rượu và thuốc phiện ở khắp nơi, đại lí rượu và thuốc phiện nhiều hơn trường học, trong 1000 làng chỉ có 10 trường học, nhưng đại lí rượu và thuốc phiện lại nhiều gấp 150 lần số trường học”. (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.38). Tư liệu 3. a) Bên cạnh những tác động tiêu cực, sự thống trị của chủ nghĩa thực dân phương Tây cũng tạo ra một số thay đổi tích cực ở khu vực Đông Nam Á. b) Thực dân phương Tây đến Đông Nam Á là để thực hiện sứ mệnh khai hóa văn minh. c) Chính sách “chia để trị” của thực dân phương Tây là một trong những nguyên nhân dẫn tới xung đột sắc tộc, tôn giáo, vùng miền… gay gắt ở các quốc gia Đông Nam Á. d) Việc thực dân phương Tây áp đặt nền văn hóa nô dịch, thi hành chính sách ngu dân đã để lại những hậu quả nặng nề và lâu dài cho các nước Đông Nam Á.

Xem chi tiết 7.6 K lượt xem 8 tháng trước