khoahoc.vietjack.com

Danh sách câu hỏi tự luận ( Có 626,276 câu hỏi trên 12,526 trang )

(6.0 điểm): LÀNG CÁT Bước ra đã chạm cát rồi nhói lòng tôi trước đất trời trắng phau quanh năm bão dập trên đầu nội ơi hạt thóc tìm đâu đất trồng?   Tôi qua bao những cánh đồng chẳng đâu ruộng thụt sâu trong cát lầy cỏn con một vạt lúa gầy như mụn vá nội đắp ngày đói xưa ...   Nội lam lũ suốt bốn mùa mà sao hạt thóc trong bồ vẫn vơi nội nuôi nhà chục miệng người sống bằng những hạt gạo thời chiêm khê!   Nghẹn ngào cát trắng đồng.quê thơ tôi xưa ngại viết về hạt cơm còn bao kẻ nữa vô ơn lớn nhờ máu-những-cọng-rơm đất nghèo! Tôi cầm nhụm thóc nâng niu có trong tay nỗi gieo neo tháng ngày nội đơm cả những rủi may vào trong mỗi chén cơm đầy tôi ăn   Nghĩ thương đời nội nhọc nhằn giọt-mồ-hôi-hạt-gạo-lần-lội-qua bao điều tiềm ẩn sâu xa cứ tìm trong vỏ trấu là gặp thôi   Lúa đồng quê cát, người ơi!   Làng Hà Thượng- Huế 1986   (Trương Nam Hương2, Viết tặng những mùa xưa, Nxb Thanh niên, 1999, tr.76-77)   Cảm nhân bài thơ Làng cát của Trương Nam Hương, từ đó em hãy bàn luận ngắn gọn về ý kiến: “Cái hồn của thơ không phải là chữ, mà là cái vầng sáng tỏ mờ bao quanh mỗi chữ. Nó là tinh chất của sự sống thi sĩ đã trút vào và làm tràn đầy mỗi chữ. Mà tinh chất của sự sống người chính là xúc cảm, suy cảm.”  (Chu Văn Sơn, Thơ, điệu hồn và cấu trúc, Nxb Hội Nhà văn, 2023, tr.10)   1 Thời chiêm khê: lúa vụ chiêm được gieo cấy vào mùa lạnh (khoảng tháng 11 âm lịch) và thu hoạch vào đầu mùa nóng (khoảng tháng 5 âm lịch). Đây là khoảng thời gian hanh khô, thiếu nước tưới tiêu (do trước đây nông nghiệp phụ thuộc vào nước mưa) dẫn đến tình trạng lúa khó bén rễ hoặc “khê”- cháy khô. 2 Trương Nam Hương sinh năm 1963, quê quán ở Huế. Hiện ông sống và viết tại TP. Hồ Chí Minh, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Thơ Trương Nam Hương man mác nỗi tha hương và tình yêu dành cho những người thân yêu ruột thit. Diễn đạt tình cảm một cách trong sáng, chân thành, tự nhiên ... là cách trau chuốt của thơ ông.

Xem chi tiết 845 lượt xem 2 tháng trước

(5.0 điểm): Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích nội dung chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn: TRUNG THU CỦA MẸ Chị đi chợ sớm. Gánh rau trên vai chị nặng cong đòn gánh. Bé Thu cũng dậy sớm. Sau khi giúp mẹ xếp những mớ rau muống vào cái rổ để mẹ gánh đi rồi bé Thu ngồi vào bàn ôn bài. Khi trời đã sáng hẳn cái Thu mới đứng dậy vươn vai thu sách vở để chuẩn bị tới lớp. Trong buồng có tiếng bà khúc khắc ho. Bà đang bị ốm. Mẹ đi chợ bán rau lấy tiền mua thuốc cho bà. Cái Thu mở cái lồng bàn mẹ úp trên bàn. Hai bát cháo còn nóng. Một quả trứng gà đã bóc vỏ được cắt làm đôi để trong cái đĩa. Đó là bữa sáng của hai bà cháu. Bé Thu biết là mẹ gánh rau đi chợ mà chưa ăn gì. Mấy ngày hôm nay bà ốm nên mẹ nó lo lắm. Thu múc chậu nước và lấy cái khăn để bà lau mặt. Đoạn nó bưng bát cháo và cả hai nửa quả trứng luộc cho bà. Bà cũng giục nó ăn sáng rồi đi học kẻo muộn. Sắp đến Tết Trung thu. Trên đường làng đã có rất nhiều trẻ con cầm những chiếc đèn ông sao rất đẹp. Buổi tối hôm qua lũ trẻ con tụ tập kéo nhau rồng rắn thắp nến, rước đèn ông sao, đèn kéo quân đi khắp làng. Tiếng trống ếch khua “tom… tom…” rộn rã. Qua ngõ nhà Thu, bọn trẻ con í ới gọi: - Thu ơi! Đem đèn cùng đi chơi với chúng mình! Cái Thu đứng nép vào cánh cổng nhìn bọn trẻ con rồi nói: - Bà tớ đang bị ốm. Tớ phải ở nhà với bà và học bài… tối ngày mai nhất định tớ sẽ đi rước đèn với các bạn. Cái Thu nói vậy để các bạn khỏi nài nỉ, giục nó đi chơi. Thực ra, nó làm gì có chiếc đèn nào mà đi rước cùng tụi trẻ con trong xóm. Cái Thu thoáng buồn. Nó ước mơ có một cái đèn ông sao để vui đón Tết Trung thu với các bạn. Nhưng nhà nó nghèo lắm, chỉ có ba bà cháu, mẹ con. Bà nó lại đang bị ốm. Gánh rau hàng ngày mẹ đem vào tận nội thành để bán rong cũng chả đủ tiền mua thuốc cho bà thì làm gì có tiền mua đèn Trung thu cho nó. Buổi chiều bé Thu đi học về thì thấy mẹ cũng đã đi chợ về. Bà cũng đang ngồi ở ngoài cửa nhà cùng nhặt rau với mẹ. Bệnh của bà đã đỡ hẳn. Nét mặt bà rạng rỡ lên khi nhìn thấy bé Thu. Cái Thu chào bà và mẹ rồi khoe ngay: - Hôm nay con được hai điểm 10 tập viết và làm toán đấy ạ! - Giỏi quá! Chị khen con gái và nói tiếp: “Mẹ và bà có phần thưởng, quà Trung thu cho con đây!” Nói xong chị lấy từ sau cánh cửa ra một chiếc đèn ông sao nho nhỏ nhưng rất đẹp. Đôi mắt của bé Thu sáng bừng lên. Nó cầm chiếc đèn ông sao sung sướng nghĩ ngay đến buổi tối hôm nay sẽ được rồng rắn đi rước đèn vui đón Trung thu với các bạn. Ngắm nghía chiếc đèn ông sao một lúc, chợt nhớ ra nó reo lên: - Con cũng có quà Trung thu cho bà và mẹ đấy! Cái Thu vội lục lọi trong cặp sách lấy ra một cái gói. Nó mở ra. Đó là một cái bánh nướng loại nhỏ. Chị ngạc nhiên chưa kịp hỏi nó lấy tiền đâu mà mua bánh Trung thu thì nó nói: - Hôm nay có một đoàn các anh chị thanh niên tình nguyện đến trường con tặng quà Trung thu. Mỗi đứa được một món quà. Con không nhận đèn ông sao và đồ chơi mà xin nhận cái bánh nướng này để dành đem về cùng bà và mẹ “phá cỗ” đón Trung thu, để cả nhà ta có Tết Trung thu… Chị xúc động ôm lấy con gái rồi khe khẽ bảo: - Con mới chính là Trung thu của mẹ! (Theo Truyện ngắn Trọng Bảo*, nguồn dẫn https://baohatinh.vn, ngày 12/11/2024). Chú thích:  - Trọng Bảo tên thật là Hà Trọng Bảo sinh năm 1956 quê quán tại thị trấn Hoa Sơn, Lập Thạch, Vĩnh Phúc. Ông hiện công tác tại Phòng Thông tấn - Báo chí quân đội, là hội viên Chi hội Nhà văn Quân đội. Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Tác phẩm đã xuất bản: Ngọn gió sân chùa (tập truyện ngắn), Bông hồng không gai (tập truyện ngắn), Đồng tiền lá đa (tập truyện ngắn), Phong lan đỏ (tập truyện ngắn), Giông gió đi qua (tập truyện ngắn)… - Truyện ngắn Trung thu của mẹ được viết nhân dịp Trung thu 2013 và in trong tập Giông gió đi qua, tập truyện ngắn NXB Quân đội 2016.

Xem chi tiết 6.6 K lượt xem 2 tháng trước

(4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích nhân vật người bà trong truyện ngắn sau:                                                                                Bát canh của bà Nếu như bà ngoại tôi còn sống thì năm nay bà đã trên một trăm tuổi. Nói vậy thôi, chứ bà làm sao có thể sống được đến nay, vì chính tôi - khi xưa là thằng bé tám, chín tuổi - bây giờ đã có một lũ cháu gọi bằng ông rồi. Ngày ấy, tôi sống với thầy mẹ tôi ở tỉnh xa, lâu lâu mới được về quê. Tôi nhớ quê mình hồi đó thật nghèo, bốn bên là đồng chiêm trũng. Bà ngoại ở tít xóm trên, được tin chúng tôi về, bà thường mang quà đến cho, khi thì tấm mía, khi thì mấy củ khoai lang luộc, toàn những thứ tự tay bà trồng ra cả. Bà làm gì có tiền để mua cho chúng tôi các thứ quà chợ. Tôi nhớ người bà gầy quắt. Bà mặc váy thâm sờn bạc, áo cánh nâu. Bà không biết chữ, nhưng bà thuộc nhiều câu ca, câu vè lắm. Kỉ niệm đậm nét nhất trong tôi về bà ngoại là hôm bà cho chúng tôi ăn bữa canh cua nấu với rau tập tàng. Rau tập tàng có nghĩa là các loại rau hỗn hợp, phần lớn là mọc hoang. Tôi xin đi theo bà để hái rau. Bà chỉ cho tôi từng loại rau một. Đây là cây dền cơm mọc từng bụi, lá xanh, có hoa lấm tấm ở đầu nhánh. Đây là rau đay, cọng tía, lá dài hình mắt người. Nơi rau dền và rau đay mọc, thường có các loại châu chấu, cào cào sinh sống; tôi quên cả hái rau để vồ bắt chúng, khiến bà tôi phải nhắc. Đây là rau sam mọc lan từng khóm sát đất, lá nhỏ như tai chuột mà dày, trên xanh dưới tía, hoa vàng li ti. Đây là dây mùng tơi leo trên bụi duối, hàng chục ngọn ngóc lên tinh nghịch như cùng nhau chơi trốn tìm, từng chuỗi hoa trắng như hạt cườm, quả chín màu tím đậm. Bà tôi và tôi đã hái đầy một rổ. Bà bảo tôi: - Cháu đợi bà hái ít bông thiên lý, bát canh có nó thơm mà mát lắm. Bà ra gần bờ ao, nơi có giàn thiên lý bà trồng. Tôi đòi cùng được hái với bà. Bà nói: - Không được đâu. Nhỡ có rắn lục nó cắn cháu. Rắn lục thích hoa thiên lý lắm. Tôi hỏi: - Bà ơi, thế bà đã trông thấy rắn lục bao giờ chưa? Bà cười: - Ấy là nghe các cụ nói thế, chứ bà chưa thấy bao giờ. Cứ phải cẩn thận là hơn, cháu ạ. Bà tôi hái xuống nắm hoa thiên lý, chùm đang nụ, chùm nở màu vàng xanh, hương thơm ngọt lịm. Sau đó bà ra cầu ao rửa rau và đi làm cua. Cua bà bắt là cua bò nắng. Tiết tháng sáu ta, nắng gắt nung đốt làm nước ruộng sủi tăm, những con cua phải bò lên thân cây lúa để trốn nóng. Bà ngoại bắt chúng khá dễ dàng. Trong giỏ của bà có đến năm chục con, con mai vàng, con mai màu xanh đá, con nào con nấy đều giương càng lên như để dọa tôi. Ấy thế mà bà trị được hết, chả con nào cắp được vào ngón tay bà. Tôi thật không sao quên được bữa cơm chiều hôm ấy. Chỉ có món canh cua nấu rau tập tàng và cà muối, với một niêu cơm gạo đỏ. Bà ơi, đã gần sáu chục năm qua, cháu vẫn nhớ bát canh của bà, gạch cua béo ngậy, các loại rau thơm và mát, quả cà giòn tan, còn cơm bà nấu sao mà bùi và ngọt thế. Bà cứ tủm tỉm ngồi nhìn cháu ăn, bà còn quạt cho cháu bằng cái mo cau nữa. Bây giờ thì quê ta đã giàu có hơn, khác hẳn trước rồi. Bà đã có một đàn cháu, chắt, chút, chít, được nuôi nấng và học hành tử tế. Rau cỏ bây giờ nhiều loại hơn trước. Thức ăn cũng sẵn. Nhưng quên làm sao được nồi canh rau tập tàng ngày ấy, ngọt ngào lòng thơm thảo của bà. Tháng 7/1995 (Những truyện hay viết cho thiếu nhi,  Vũ Tú Nam, NXB Kim Đồng, 2024, tr.188 -190)

Xem chi tiết 2.9 K lượt xem 2 tháng trước

(5,0 điểm).  Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích đặc sắc nội dung và nghệ thuật của bài thơ sau: CHUYỆN CÁNH ĐỒNG (Nguyễn Văn Song) (1) Nghe đồng kể chuyện cỏ hoa Xa xanh trải tới bao la cuối trời Có bông sen trắng không lời Thản nhiên trắng đến cạn đời còn thơm   (2) Nghe đồng kể chuyện rạ rơm1 Ngàn năm vương nợ hạt cơm quê mình Hoá thành ngọn khói ân tình Trả tro về đất khai sinh lặng thầm   (3) Nghe đồng kể dấu chân trần Vẹt mòn đọng váng bùn2 ngâm bốn mùa Móng bầm3 bám ruộng phèn chua Chân in thêm dấu lúa vừa thêm bông (4) Nghe đồng kể chuyện bão giông Mồ hôi đánh cược mênh mông lũ tràn Mỗi lần cơn bão vừa tan Lại nghe đất cựa muôn ngàn mầm cây   (5) Lặng im nghe chuyện đất này Nắm xương dưới cỏ kể ngày rất xa Buồn vui từ thuở ông bà Còn in sắc biếc quê nhà đồng chiêm 4 ... (Tạp chí Văn nghệ Quân đội – số 1048, tháng 11/2024, tr 99)       Chú thích: - Nguyễn Văn Song: sinh năm 1974 tại Đông Anh, Hà Nội, là nhà thơ, giáo viên THPT tại Hưng Yên, nổi tiếng với các tập thơ lục bát sâu lắng về làng quê và mẹ như “Đi từ phía cổng làng”, “Mẹ và sen” với lối viết giản dị, mộc mạc, chân thành. Các hình tượng thơ gắn liền với kỷ niệm làng quê, bờ ao, gốc rạ, cổng làng.... Thơ ông đã đoạt giải B (không có giải A) cuộc thi thơ Báo Văn Nghệ 2019 - 2020. 1 Rạ rơm: rạ là phần thân cây lúa còn lại trên ruộng sau khi đã gặt lúa xong; rơm là phần thân cây lúa đã được phơi khô sau khi tuốt hạt lúa. 2 Váng bùn: Lớp bùn mỏng, nhẹ nổi lên mặt nước (ao, ruộng...)  3 Móng bầm: Móng thâm tím, gợi sự đau đớn, vất vả, nhọc nhằn của con người trong lao động. 4 Đồng chiêm: Là vùng ruộng thấp, thường bị ngập nước, chủ yếu trồng lúa theo vụ chiêm (vụ lúa gieo mùa đông, gặt vào đầu mùa hạ)

Xem chi tiết 3.5 K lượt xem 2 tháng trước