Đề ôn thi ĐGNL Đại học Sư phạm Hà Nội môn Ngữ văn có đáp án - Đề số 5
6 người thi tuần này 4.6 6 lượt thi 12 câu hỏi 90 phút
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
🔥 Học sinh cũng đã học
Đề ôn thi Đánh giá năng lực Đại học Sư phạm Hà Nội môn Vật lý có đáp án - Đề số 10
Đề ôn thi Đánh giá năng lực Đại học Sư phạm Hà Nội môn Vật lý có đáp án - Đề số 9
Đề ôn thi Đánh giá năng lực Đại học Sư phạm Hà Nội môn Vật lý có đáp án - Đề số 8
Đề ôn thi Đánh giá năng lực Đại học Sư phạm Hà Nội môn Vật lý có đáp án - Đề số 7
Đề ôn thi Đánh giá năng lực Đại học Sư phạm Hà Nội môn Vật lý có đáp án - Đề số 6
Đề ôn thi Đánh giá năng lực Đại học Sư phạm Hà Nội môn Vật lý có đáp án - Đề số 5
Đề ôn thi Đánh giá năng lực Đại học Sư phạm Hà Nội môn Tiếng Anh có đáp án - Đề số 5
Đề ôn thi Đánh giá năng lực Đại học Sư phạm Hà Nội môn Tiếng Anh có đáp án - Đề số 4
Danh sách câu hỏi:
Đoạn văn 1
I.1. Đọc văn bản 1 và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 5.
VĂN BẢN 1
Bỏ phố về quê: Người trẻ hoang mang giữa những khác biệt
Mơ tưởng về cuộc sống yên bình, lãng mạn ở thôn quê, nhiều người trẻ gặp khó khăn khi phải đối mặt với thực tế khắc nghiệt và khác biệt văn hoá.
Bài viết dưới đây của tác giả Chang Han - một cây viết tự do, đồng thời là nhà phân tích nghiên cứu tại Học viện châu Âu về Tôn giáo và Xã hội.
Từ lâu, các thành phố lớn đã có sức hút khó cưỡng đối với giới trẻ Trung Quốc. Chúng đại diện cho mọi thứ mà vùng nông thôn còn thiếu: nguồn lực giáo dục tốt hơn, nhiều cơ hội việc làm hơn và khả năng tiếp cận với thế giới rộng lớn hơn.
Với thế hệ 8X, 9X sinh ra trong các gia đình nông thôn, việc thoát khỏi cuộc sống ruộng đồng, được học hành và có một công việc trên thành phố là điều đáng tự hào, còn trở về quê chỉ được xem là lựa chọn thứ yếu.
Nhưng điều đó dường như không còn phù hợp.
Trong thập kỷ qua, chính phủ Trung Quốc đã đổ nhiều nguồn lực vào các vùng nông thôn. Chính quyền Bắc Kinh hy vọng có thể thu hút những người trẻ tài năng về định cư ở nông thôn để thúc đẩy nền kinh tế.
Theo Bộ Nông nghiệp, chỉ tính riêng năm 2020, 10,1 triệu người đã trở về nông thôn để bắt đầu kinh doanh hoặc tham gia vào công cuộc “đổi mới”.
Nhưng xu hướng ngược dòng này không phải chỉ do các quyết sách của chính phủ. Trong những năm qua, ngày càng nhiều thanh niên thành thị mong muốn được chạy trốn khỏi những áp lực của cuộc sống hiện đại để về quê.
Trong một nhóm có tên là “cuộc sống thôn dã” trên trang mạng xã hội Douban, hàng chục nghìn thanh niên đã thảo luận về việc nghỉ hưu sớm để tận hưởng vẻ đẹp bình dị và tự nhiên của vùng nông thôn Trung Quốc.
Ở một góc độ nào đó, 2 xu hướng này dường như mâu thuẫn với nhau.
Trong khi chính phủ mong muốn mang lại sức sống kinh tế đô thị cho các khu vực nông thôn thì những người trẻ nước này lại mơ ước về một cuộc sống điền viên, không bị áp lực bởi công việc và vấn đề tài chính.

Tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng nông thôn phía đông tỉnh An Huy. Trước khi có những nỗ lực xoá đói giảm nghèo gần đây, quê tôi là nơi có một nửa dân số được xếp vào loại “nghèo cùng cực”.
Thanh niên lớn lên đi học đại học ở thành phố rồi ở lại đó làm việc. Những người khác thì bỏ học lên thành phố lao động tự do. Chỉ một số ít quay trở lại, chủ yếu là vì họ đã kiếm được việc làm tại các cơ quan nhà nước hoặc trường học địa phương, nơi có điều kiện sống tốt hơn vùng nông thôn hẻo lánh.
Đối với hầu hết thanh niên nông thôn, động cơ chính cho cả việc di cư và trở về sau này của họ là kinh tế.
Lü Dewen, một nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Quản trị nông thôn Trung Quốc thuộc Đại học Vũ Hán, cũng lập luận rằng lựa chọn trở về nông thôn phụ thuộc nhiều vào các nguồn lực địa phương và cơ hội thị trường.
Điều này đã được chứng thực bởi những người mà tôi phỏng vấn. Những người trẻ trở về quê thường ghen tị với các chính sách hỗ trợ mà chính phủ dành cho các vùng nông thôn ở Giang Tô và Chiết Giang - 2 tỉnh ven biển rất phát triển. Còn ở các khu vực như Giang Tây, Vân Nam và An Huy, nơi mức độ phát triển thấp hơn đáng kể, việc trở về nông thôn giống như rảo bước trên một con đường không lối đi. Bởi rời khỏi thành phố thật đơn giản nhưng tìm ra thứ gì đó để làm ở nông thôn lại là một thách thức.
Ở một số vùng nông thôn, việc thiếu cơ sở hạ tầng và quản trị xã hội hiện đại cũng khiến nhiều người thất vọng, lấy ví dụ như “cuộc cách mạng nhà vệ sinh” do chính phủ thúc đẩy. Việc thực hiện chương trình này cũng gặp những trở ngại về tiến độ khi các nhà vệ sinh cũ đã bị đập bỏ nhưng các nhà vệ sinh mới vẫn chưa được xây dựng.
Một vấn đề nữa là hầu hết người trẻ sống ở thành phố trong một thời gian dài đều đã quen với lối sống tôn trọng các quy tắc về quyền riêng tư và sự độc lập. Tuy nhiên, trong một xã hội với văn hoá làng xã như nông thôn Trung Quốc, hầu như mọi người đều biết nhau. Khái niệm về quyền riêng tư thực tế không tồn tại. Điều tương tự cũng xảy ra đối với những vấn đề khác. Do đó, những người trẻ trở về từ thành phố thường bị mắc kẹt giữa 2 hệ thống giá trị, hay nói đơn giản là họ khó thích nghi với lối sống nông thôn.
Cụ thể hơn, những người mà tôi phỏng vấn chỉ ra rằng vấn đề phổ biến nhất mà họ gặp phải là việc dân làng không chấp nhận lối sống của họ, bao gồm cả việc không kết hôn và không sinh con. Một vài người thậm chí còn bị chế giễu vì lựa chọn trở về, vì theo quan điểm nông thôn, nó thể hiện một bước lùi trong cuộc đời.
Một sinh viên tốt nghiệp đại học từng làm việc ở Thâm Quyến trong 2 năm đã mô tả cho tôi nghe về sự khinh thường mà cô ấy phải đối mặt từ cha mẹ và hàng xóm sau khi nghỉ việc và trở về quê. Trong vòng 6 tháng, cô đã phải từ bỏ thôn quê và quay trở lại thành phố.
Điều này không có nghĩa rằng nông thôn Trung Quốc là một nơi vô vọng. Những hình ảnh một vùng đất hoang nghèo đói không thể hiện được chính xác những gì đang thực sự diễn ra. Nhưng ngược lại, đối với những người trẻ chạy trốn khỏi các thành phố, cuộc sống nông thôn cũng không phải là một thiên đường đầy mơ mộng.
… Nói tóm lại, điều cần thiết không phải là sự phân biệt rõ ràng rằng ở nông thôn thì “tốt” và thành phố thì “xấu” hoặc ngược lại, mà là nỗ lực thực sự để giải quyết những bất bình đẳng tồn tại ở giữa và trong những không gian này. Chỉ khi đó, những người trẻ tuổi mới thực sự được tự do lựa chọn vị trí phù hợp nhất với mình.
Đăng Dương (Theo Sixth Tone)
Nguồn: vietnamnet.vn
Câu 1/12
A. Vì muốn họ nghỉ hưu sớm để tận hưởng cuộc sống điền viên.
B. Vì muốn giảm áp lực việc làm tại thành phố lớn, đóng góp xây dựng nông thôn mới.
C. Vì muốn người trẻ hiện thực hóa giấc mơ sống giản dị, không áp lực, phát triển kinh tế nông thôn trong thời kỳ mới.
Lời giải
- Căn cứ văn bản: “Chính quyền Bắc Kinh hy vọng có thể thu hút những người trẻ tài năng về định cư ở nông thôn để thúc đẩy nền kinh tế”. Ngay sau đó, bài viết cho biết năm 2020 có hơn 10 triệu người trở về nông thôn để bắt đầu kinh doanh hoặc tham gia công cuộc đổi mới. => Mục đích của chính phủ là phát triển kinh tế và đổi mới nông thôn.
- Vì sao các phương án khác sai?
A. Sai. → Đây là mong muốn của một bộ phận người trẻ, không phải mục tiêu của chính phủ.
B. Sai. → Văn bản không nêu mục tiêu giảm áp lực việc làm ở đô thị.
C. Sai. → “Hiện thực hóa giấc mơ sống giản dị” là nguyện vọng của người trẻ chứ không phải chủ trương của chính phủ.
=> Chọn D.
Câu 2/12
A. Người trẻ được hỗ trợ về chính sách nhưng thiếu lòng quyết tâm, thiếu khả năng thích nghi ở môi trường mới.
B. Chính phủ muốn phát triển kinh tế, người trẻ lại muốn sống vô lo không bị áp lực bởi kinh tế.
C. Nông thôn đủ điều kiện để phát triển kinh tế nhưng người trẻ thiếu khả năng thích nghi.
Lời giải
- Văn bản nêu rõ: Chính phủ muốn đưa sức sống kinh tế đến nông thôn. Người trẻ lại mong muốn: “một cuộc sống điền viên, không bị áp lực bởi công việc và vấn đề tài chính”. Đó chính là mâu thuẫn được tác giả chỉ ra.
- Vì sao các phương án khác sai?
A. Không phải mâu thuẫn chính của văn bản.
C. Văn bản không khẳng định nông thôn đã đủ điều kiện phát triển.
D. Đây không phải mâu thuẫn được nêu.
=> Chọn B.
Câu 3/12
A. Họ không nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ chính quyền địa phương.
B. Cơ sở vật chất thiếu thốn và thiếu kết nối mạng internet, đồng thời cơ sở vật chất không đáp ứng được mong muốn của người trẻ.
C. Họ bị cộng đồng ở quê nhà xa lánh do thành kiến và khác biệt văn hóa.
Lời giải
- Tác giả chỉ ra: người trẻ gặp khó khăn khi trở về vì: khác biệt văn hóa; thiếu quyền riêng tư; dân làng không chấp nhận lối sống; bị chế giễu. => Họ bị mắc kẹt giữa hai hệ giá trị.
- Vì sao các đáp án khác sai?
A. Chỉ phản ánh một phần.
B. Không có chi tiết thiếu internet.
D. Khí hậu không được nhắc đến.
=> Chọn C.
Câu 4/12
A. Việc quay về quê là lựa chọn thiếu chín chắn, chưa cân nhắc các trường hợp có thể xảy ra.
B. Người trẻ dễ bị tổn thương, thiếu định hướng đúng đắn nếu thiếu hỗ trợ tâm lý từ gia đình.
C. Áp lực từ định kiến xã hội quê nhà khiến người trẻ cảm thấy thất bại và bị cô lập.
Lời giải
- Ví dụ cô gái từng làm ở Thâm Quyến: bị cha mẹ và hàng xóm coi thường; sau sáu tháng phải quay lại thành phố. Ví dụ này minh họa rõ nhất: áp lực từ định kiến xã hội khiến người trẻ thất bại trong việc thích nghi.
- Vì sao các đáp án khác sai?
A. Không kết luận cô lựa chọn thiếu chín chắn.
B. Không đề cập hỗ trợ tâm lí.
D. Không phải nguyên nhân chính.
=> Chọn C.
Câu 5/12
A. Nông thôn cần được cải cách mạnh để bắt kịp với nhu cầu sống hiện đại ngày nay.
B. Chỉ người thực sự cứng cỏi mới thích nghi được khi “bỏ phố về quê”, người trẻ cần cân nhắc thật kỹ khi đưa ra lựa chọn cho chính mình.
C. Không gian sống nào cũng có những hạn chế riêng, tuy nhiên thành phố vẫn là lựa chọn an toàn, dễ thích nghi và dễ phát triển hơn cho người trẻ.
Lời giải
- Đoạn cuối khẳng định: “Điều cần thiết không phải là phân biệt nông thôn tốt hay thành phố tốt mà là giải quyết những bất bình đẳng”. Đây là thông điệp trung tâm của toàn văn.
- Vì sao các đáp án khác sai?
A. Chỉ phản ánh một giải pháp.
B. Không phải thông điệp chính.
C. Trái với kết luận của tác giả.
=> Chọn D.
Đoạn văn 2
I.2. Đọc văn bản 2 và trả lời các câu hỏi từ 6 đến 10.
VĂN BẢN 2
Lọc bờ sông: Giải pháp tự nhiên giúp bổ sung nước ngầm bền vững
Các nhà khoa học đã đánh giá hiệu quả của phương pháp lọc bờ sông trong việc bổ sung nước ngầm tại sông Đại An, Bình Định. Nhóm nghiên cứu khuyến nghị cần tối ưu hóa vị trí giếng khai thác và giám sát chất lượng nước theo thời gian thực để đảm bảo khai thác và quản lý tài nguyên nước bền vững trong tương lai.

Mô tả quá trình lọc bờ sông ở sông Đại An
Nước ngầm là nguồn tài nguyên quan trọng, cung cấp nước sinh hoạt và nước tưới tiêu nông nghiệp. Tuy nhiên, tại Việt Nam, tình trạng khai thác nước ngầm quá mức và xâm nhập mặn đang làm suy giảm nghiêm trọng nguồn tài nguyên này. Một trong những giải pháp bền vững giúp bổ sung nước ngầm từ nước mặt một cách tự nhiên đang được các nhà khoa học đánh giá cao là Lọc bờ sông (Riverbank Filtration - RBF). Đây là một quá trình tự nhiên trong đó nước từ sông, hồ hoặc suối thấm qua lớp trầm tích ven bờ và được lọc sạch trước khi đi vào tầng chứa nước ngầm, trước khi nước được khai thác thông qua giếng.
Để đánh giá hiệu quả của phương pháp lọc bờ sông, các nhà khoa học Việt Nam thuộc Trung tâm Cảnh báo và Dự báo tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã phối hợp với các nhà khoa học quốc tế thuộc Cục Khảo sát Địa chất Phần Lan sử dụng mô hình thủy văn số và phân tích đồng vị bền để đánh giá tương tác giữa nước ngầm và nước mặt tại khu vực sông Đại An, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Tại đây, các nhà khoa học đã áp dụng mô hình FEFLOW 7 - một mô hình mô phỏng nước ngầm hết sức hữu dụng để mô hình hóa dòng chảy nước ngầm phức tạp bằng việc sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn, qua đó đem lại phân tích chi tiết về hành xử của nước ngầm bên trong một tầng ngậm nước - để mô phỏng dòng chảy nước ngầm và tỷ lệ thẩm thấu từ nước sông vào tầng chứa nước. Mô hình chủ yếu được xây dựng trên cơ sở dữ liệu thu thập từ ba giếng quan trắc và một giếng được trạm cấp nước Cát Nhơn dùng để khai thác nước, kết hợp với các phép đo thực địa về mực nước, độ dẫn điện và nhiệt độ trong suốt 11 tháng từ tháng 6/2022 đến tháng 5/2023. Đồng thời, nhóm nghiên cứu đã thực hiện phân tích đồng vị hydro (δ²H) và oxy (δ¹⁸O) của 35 mẫu nước lấy từ giếng khai thác, giếng quan trắc, nước sông và nước mưa để xác định sự pha trộn giữa nước mặt và nước ngầm trong các mùa khác nhau.
Kết quả mô hình cho thấy khoảng 72% tổng lượng nước ngầm tại khu vực giếng khai thác là từ quá trình lọc bờ sông. Điều này chứng tỏ có sự tương tác thủy lực chặt chẽ giữa sông Đại An và tầng chứa nước dưới mặt đất. Vào mùa mưa, dòng chảy từ sông vào tầng chứa nước chiếm đến 54%, trong khi vào mùa khô chỉ còn 2%, chứng tỏ dòng chảy sông đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nước ngầm. Kết quả phân tích đồng vị cũng cho thấy, vào mùa mưa, nước ngầm tại khu vực nghiên cứu có thành phần gần giống nước sông hơn, trong khi vào mùa khô, nước ngầm chủ yếu có nguồn gốc từ nước mưa thấm xuống qua đất. Thời gian di chuyển của nước từ bờ sông đến giếng khai thác gần nhất được ước tính là dưới 3 ngày khi có bơm hút, ngắn hơn nhiều so với khoảng thời gian 40 ngày trong điều kiện không có bơm. Điều này cho thấy, nếu không có các biện pháp quản lý phù hợp, nước sông có thể chảy nhanh vào giếng khai thác mà không được lọc tự nhiên đủ lâu, làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và ô nhiễm.
Kết quả nghiên cứu đã được các nhà khoa học đăng tải trong bài báo "Use of a groundwater model to evaluate groundwater–surface water interaction at a riverbank filtration site: a case study in Binh Dinh, Vietnam" trên tạp chí Sustainable Water Resources Management.
Kết quả này có ý nghĩa quan trọng đối với việc tối ưu hóa vị trí đặt giếng khai thác và quản lý tài nguyên nước một cách bền vững. Nhóm nghiên cứu khuyến nghị cần xác định khoảng cách tối ưu giữa giếng khai thác và sông để đảm bảo thời gian lọc nước đủ lâu, giúp cải thiện chất lượng nước. Các mô phỏng cho thấy khoảng cách hợp lý để đặt giếng là từ 50 đến 60 mét tính từ bờ sông Đại An, vừa đảm bảo lượng nước bổ sung dồi dào vừa kéo dài thời gian lọc tự nhiên. Đồng thời, việc kiểm soát tốc độ khai thác nước ngầm cũng rất quan trọng để tránh hạ thấp mực nước ngầm quá nhanh, làm suy giảm nguồn nước bổ sung từ sông.
“Hiện tại, không có hệ thống giám sát theo thời gian thực về mực nước hoặc chất lượng nước tại khu vực giếng khai thác Cát Nhơn. Mực nước ngầm được đo hằng tháng, và việc lấy mẫu nước ngầm chỉ được thực hiện vài lần trong năm. Các thông số phân tích chỉ giới hạn ở những yêu cầu theo quy định về chất lượng nước ngầm”, các nhà khoa học viết. Lọc bờ sông là một phần quan trọng trong quá trình bổ sung và cung cấp nước ngầm tại khu vực này, “việc giám sát dài hạn và theo thời gian thực đối với cả nước sông và nước ngầm sẽ cung cấp dữ liệu và công cụ quan trọng để ứng phó tốt hơn với những thay đổi tiềm ẩn.”
Nghiên cứu này góp phần cung cấp dữ liệu khoa học quan trọng cho việc quy hoạch và bảo vệ tài nguyên nước ngầm, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng. Các kết quả cũng gợi mở hướng phát triển các công nghệ bổ sung nhân tạo nước ngầm tại Việt Nam, nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước trong dài hạn.
Anh Thư
Nguồn: tiasang.com.vn
Câu 6/12
A. Dòng chảy sông chỉ có tác dụng vào mùa mưa, hoàn toàn không ảnh hưởng vào mùa khô.
B. Dòng chảy sông tương tác mạnh với nước ngầm, đặc biệt vào mùa mưa, nhưng yếu hơn vào mùa khô cho thấy vai trò điều tiết theo mùa của sông trong bổ sung nước ngầm.
C. Dòng chảy sông là nguồn cấp chính cho nước ngầm trong suốt cả năm đóng vai trò điều tiết theo mùa, đồng thời hỗ trợ nguồn nước tưới tiêu trong dài hạn.
Lời giải
- Kết quả nghiên cứu: mùa mưa: 54% nước ngầm được bổ sung từ sông; mùa khô: 2%.
=> Dòng chảy sông có vai trò bổ sung nước ngầm theo mùa.
- Vì sao các đáp án khác sai?
A. Sai vì mùa khô vẫn có tác động.
C. Sai vì không phải nguồn cấp chính quanh năm.
D. Không đúng nội dung nghiên cứu.
=> Chọn B.
Câu 7/12
A. Vì giám sát thường xuyên giúp kịp thời phát hiện sự thay đổi bất thường, đảm bảo chất lượng nước và khai thác bền vững.
B. Vì hiện tượng ô nhiễm vi sinh đang xảy ra tại các trạm quan trắc, theo dõi giám sát thường xuyên để đảm bảo chất lượng nước.
C. Vì đây là quy định trong quản lý tài nguyên nước của tỉnh Bình Định, đồng thời hỗ trợ cho việc khai thác nước một cách bền vững.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 8/12
A. Là mô hình dự báo lũ lụt ở vùng ven biển miền Trung, đồng thời giúp phân tích dòng thẩm thấu từ sông vào tầng chứa nước.
B. Là mô hình số mô phỏng dòng chảy nước ngầm bằng phương pháp phần tử hữu hạn, giúp phân tích dòng thẩm thấu từ sông vào tầng chứa nước.
C. Là công cụ đo độ dẫn điện và mực nước tại các giếng khoan, giúp phân tích dòng thẩm thấu từ sông vào tầng chứa nước.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 9/12
A. Là mô hình dự báo lũ lụt ở vùng ven biển miền Trung, đồng thời giúp phân tích dòng thẩm thấu từ sông vào tầng chứa nước.
B. Là mô hình số mô phỏng dòng chảy nước ngầm bằng phương pháp phần tử hữu hạn, giúp phân tích dòng thẩm thấu từ sông vào tầng chứa nước.
C. Là công cụ đo độ dẫn điện và mực nước tại các giếng khoan, giúp phân tích dòng thẩm thấu từ sông vào tầng chứa nước.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 10/12
A. Vì phương pháp này sử dụng chi phí thấp và tự nhiên, giảm rủi ro.
B. Vì phương pháp này giúp tăng tốc độ bơm nước từ sông ra sử dụng, đảm bảo cung cấp đầy đủ nguồn nước một cách nhanh và bền vững nhất.
C. Vì đây là giải pháp tự nhiên, bền vững, giảm rủi ro suy thoái tài nguyên nước và ô nhiễm.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Xem tiếp với tài khoản VIP
Còn 6/12 câu hỏi, đáp án và lời giải chi tiết.
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.