Đề ôn thi ĐGNL Đại học Sư phạm Hà Nội môn Ngữ văn có đáp án - Đề số 1
8 người thi tuần này 4.6 8 lượt thi 12 câu hỏi 90 phút
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
🔥 Học sinh cũng đã học
Đề ôn thi Đánh giá năng lực Đại học Sư phạm Hà Nội môn Vật lý có đáp án - Đề số 10
Đề ôn thi Đánh giá năng lực Đại học Sư phạm Hà Nội môn Vật lý có đáp án - Đề số 9
Đề ôn thi Đánh giá năng lực Đại học Sư phạm Hà Nội môn Vật lý có đáp án - Đề số 8
Đề ôn thi Đánh giá năng lực Đại học Sư phạm Hà Nội môn Vật lý có đáp án - Đề số 7
Đề ôn thi Đánh giá năng lực Đại học Sư phạm Hà Nội môn Vật lý có đáp án - Đề số 6
Đề ôn thi Đánh giá năng lực Đại học Sư phạm Hà Nội môn Vật lý có đáp án - Đề số 5
Đề ôn thi Đánh giá năng lực Đại học Sư phạm Hà Nội môn Tiếng Anh có đáp án - Đề số 5
Đề ôn thi Đánh giá năng lực Đại học Sư phạm Hà Nội môn Tiếng Anh có đáp án - Đề số 4
Danh sách câu hỏi:
Đoạn văn 1
I.1. Đọc văn bản 1 và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 5.
VĂN BẢN 1
Vậy cái đẹp trong khoa học là gì? Trước hết đó chính là vẻ đẹp vật chất của thế giới, nó đập ngay vào mắt chúng ta và làm chúng ta choáng ngợp. Như Mặt Trời không phải chỉ là nguồn sống, là ánh sáng và năng lượng; nó còn là nguồn của sự lộng lẫy và kinh ngạc. Khi đùa giỡn với bụi nước, với các phân tử khí và các tinh thể băng, khi phản xạ trên bề mặt các hạt bụi, cây cối, núi non, khi soi mình trên mặt nước đại dương và ao hồ, hay khi luồn lách giữa các đám mây, trong sương mù, Mặt Trời của chúng ta đã tạo ra những khung cảnh thiên nhiên tuyệt vời, làm dịu trái tim và an ủi tâm hồn. Một vẻ đẹp thường xuyên an ủi và đôi khi thậm chí còn cứu rỗi chúng ta.
Thế giới không “bắt buộc” phải đẹp, nhưng nó thực sự là như thế. Chúng ta sống trong một thế giới đầy những kì quan quang học, và bầu trời là một bức tranh hoành tráng nơi màu sắc và ánh sáng tác động và phô diễn một cách bất ngờ nhất. Bạn không thể không ấn tượng với cầu vồng - cái vòng cung đa sắc khổng lồ xuất hiện giữa những giọt nước mưa ở cuối một trận mưa dông, sự hài hoà về sắc màu và sự hoàn hảo của các cung tròn đã tạo nên cây cầu nối giữa hai bờ thơ ca và khoa học, khiến người ta phải khâm phục và sùng kính. Rồi cảnh hoàng hôn, một lễ hội của sắc vàng, cam và đỏ chiếu rọi bầu trời ngay trước khi vầng dương biến mất dưới chân trời. Khi chúng ta buồn, đôi khi chỉ cần nhìn bầu trời xanh, đầy nắng không một gợn mây cũng đủ để vơi bớt nỗi muộn phiền. Những cảnh cực quang, khi ánh sáng bị khuếch tán với những sắc màu, hình dạng và chuyển động biến hóa dường như vô tận, mà chúng ta chỉ quan sát thấy ở những vùng vĩ độ cao, quả là một cảnh tượng thần kì khiến ta phải nghẹt thở. Chúng ta sống trong một thế giới cực kì phong phú và đa dạng, với một thiên nhiên không ngừng tự do sáng tạo và đổi mới. Trong các chuyến đi thường xuyên tới các đài thiên văn ở khắp nơi trên thế giới, tôi luôn kinh ngạc trước những rừng xương rồng trong môi trường khô cằn hoang dã và uy nghi của sa mạc Arizona, nơi có đài thiên văn Kitt Peak, hay sự hùng vĩ của dãy Andes ở Chilê nơi đặt đài thiên văn Nam Âu. Do không thể cạn kiệt, sự tráng lệ của tự nhiên không bao giờ làm tôi hờ hững.
(Trích Vũ trụ và hoa sen, Trịnh Xuân Thuận, NXB Tri Thức, 2018, tr. 147-149)
Câu 1/12
A. Truyền cảm hứng và sinh lực mạnh mẽ.
B. Giúp con người hiểu cơ chế vận hành vũ trụ.
C. Thôi thúc khát vọng chinh phục bầu trời.
Lời giải
- Ngay đầu văn bản, tác giả viết: “Mặt Trời... tạo ra những khung cảnh thiên nhiên tuyệt vời, làm dịu trái tim và an ủi tâm hồn. Một vẻ đẹp thường xuyên an ủi và đôi khi thậm chí còn cứu rỗi chúng ta.”
Tiếp đó tác giả tiếp tục khẳng định: “Khi chúng ta buồn, đôi khi chỉ cần nhìn bầu trời xanh... cũng đủ để vơi bớt nỗi muộn phiền.”
Như vậy, vẻ đẹp của thiên nhiên giúp con người: ngạc nhiên, xúc động trước cái đẹp; xoa dịu tâm hồn; giảm bớt những cảm xúc tiêu cực. Đó chính là ý nghĩa của việc “cứu rỗi” trong văn bản.
- Vì sao các đáp án khác sai?
A. Truyền cảm hứng và sinh lực mạnh mẽ. → Văn bản không nhấn mạnh truyền cảm hứng hay tiếp thêm sinh lực mà nhấn mạnh khả năng an ủi, chữa lành tâm hồn.
B. Giúp con người hiểu cơ chế vận hành vũ trụ. → Không đúng trọng tâm. Đây là kiến thức khoa học chứ không phải lí do khiến thiên nhiên “cứu rỗi” con người.
C. Thôi thúc khát vọng chinh phục bầu trời. → Văn bản hoàn toàn không đề cập đến việc chinh phục thiên nhiên.
=> Chọn D.
Câu 2/12
A. Vẻ đẹp của bụi nước và những phần tử khí.
B. Vẻ đẹp của mặt nước đại dương và ao hồ.
C. Vẻ đẹp của các đám mây và sương mù.
Lời giải
- Sau khi nêu nhận định: “Chúng ta sống trong một thế giới đầy những kì quan quang học” tác giả đưa hàng loạt dẫn chứng: cầu vồng; hoàng hôn; bầu trời xanh; cực quang.
Đây đều là những hiện tượng quang học gắn với ánh sáng và màu sắc trên bầu trời.
- Vì sao các đáp án khác sai?
A. Vẻ đẹp của bụi nước và các phần tử khí → Chỉ là những yếu tố góp phần tạo nên hiện tượng quang học, chưa phải các dẫn chứng chính.
B. Vẻ đẹp của mặt nước đại dương và ao hồ → Chỉ là ví dụ ở đoạn đầu về sự phản xạ ánh sáng.
C. Vẻ đẹp của các đám mây và sương mù → Cũng chỉ là chi tiết nhỏ.
=> Chọn D.
Câu 3/12
A. Sôi nổi, nhiệt huyết.
B. Suy tư, hoài niệm.
C. Hào hứng, say mê.
Lời giải
- Đoạn văn thể hiện rõ niềm say mê khám phá thiên nhiên qua các từ ngữ: “không thể không ấn tượng”, “khâm phục”, “sùng kính”, “thần kì”, “nghẹt thở”, “luôn kinh ngạc”, “không bao giờ làm tôi hờ hững”. Những từ ngữ này thể hiện cảm xúc hào hứng, say mê trước vẻ đẹp của tự nhiên.
- Vì sao các đáp án khác sai?
A. Sôi nổi, nhiệt huyết → “Nhiệt huyết” thường dùng trong lời kêu gọi hành động, không phù hợp.
B. Suy tư, hoài niệm → Không có hồi tưởng quá khứ.
D. Chiêm nghiệm, triết lí → Có yếu tố suy ngẫm nhưng không phải giọng điệu chủ đạo.
=> Chọn C.
Câu 4/12
A. Làm sáng tỏ vẻ đẹp phong phú của thế giới tự nhiên.
B. Chứng minh quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên.
C. Nhấn mạnh nét độc đáo của cái đẹp trong khoa học.
Lời giải
- Văn bản có rất nhiều hình ảnh miêu tả: cầu vồng, hoàng hôn, cực quang, bầu trời sa mạc Arizona, dãy Andes. Những hình ảnh ấy giúp người đọc cảm nhận trực tiếp vẻ đẹp phong phú, đa dạng của thiên nhiên, từ đó làm sáng tỏ luận điểm về cái đẹp trong khoa học.
- Vì sao các đáp án khác sai?
B. Chứng minh quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên → Không phải mục đích chính.
C. Nhấn mạnh nét độc đáo của cái đẹp trong khoa học → Đây là mục đích chung của toàn văn, nhưng riêng yếu tố miêu tả chủ yếu nhằm làm nổi bật vẻ đẹp của thiên nhiên.
D. Ca ngợi thành tựu nghiên cứu Vật lí → Không đúng nội dung.
=> Chọn A.
Câu 5/12
A. Cái đẹp ẩn chứa trong vẻ tráng lệ, huyền bí của những kì quan quang học.
B. Cái đẹp là sự hoà quyện giữa vẻ đẹp vật chất và cảm xúc tinh thần.
C. Cái đẹp được tìm thấy khi con người chinh phục tự nhiên, làm chủ thế giới.
Lời giải
- Tác giả vừa nói đến: vẻ đẹp vật chất của thế giới đồng thời khẳng định vẻ đẹp ấy “làm dịu trái tim”, “an ủi tâm hồn”, “cứu rỗi chúng ta”. Như vậy, cái đẹp trong khoa học không chỉ là cái đẹp khách quan mà còn là giá trị tinh thần mà con người cảm nhận được.
- Vì sao các đáp án khác sai?
A. Cái đẹp ẩn chứa trong vẻ tráng lệ, huyền bí của những kì quan quang học → Chỉ phản ánh một phần nội dung.
C. Cái đẹp được tìm thấy khi con người chinh phục tự nhiên → Không đúng.
D. Cái đẹp nằm ở sự khiêm tốn của con người trước vũ trụ → Văn bản không đề cập.
=> Chọn B.
Đoạn văn 2
I.2. Đọc văn bản 2 và trả lời các câu hỏi từ 6 đến 10.
VĂN BẢN 2
Các ngôn ngữ kí hiệu của người khiếm thính được dùng để thể hiện cùng những suy nghĩ phức tạp như những người không bị khiếm thính muốn thể hiện thông qua việc nói và viết. Các ngôn ngữ kí hiệu của người khiếm thính có vài nghìn kí hiệu có thể sử dụng theo một chuỗi, thực hiện vai trò của các câu trong ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Và khi ta thấy người ra kí hiệu trên tivi thì chính là họ đang dịch những lời họ nghe được thành ngôn ngữ kí hiệu - và họ làm việc đó cực nhanh.
Có hai điều rất quan trọng cần phải nhớ về ngôn ngữ kí hiệu của người khiếm thính. Thứ nhất, người khiếm thính không chỉ lấy từ ngữ trong ngôn ngữ nói và dịch chúng thành các kí hiệu. [ ... ] Các kí hiệu cũng không cần phải xuất hiện theo trình tự nhất định như vậy. Đôi khi chúng bám theo trình tự từ trong câu tiếng Anh, nhưng đôi khi lại không. Cách ra dấu thông dụng cho câu “Bạn tên là gì?” bằng ngôn ngữ kí hiệu Anh là: “tên của bạn + gì” cùng với một biểu cảm băn khoăn trên gương mặt như nhướng lông mày. Điều thứ hai cần nhớ về ngôn ngữ kí hiệu của người khiếm thính là chúng rất khác nhau. Cũng giống như ta không thể mong chờ rằng người chỉ nói tiếng Anh lại hiểu được tiếng Trung Quốc, ta không thể mong chờ người chỉ biết ngôn ngữ kí hiệu Anh lại hiểu ngôn ngữ kí hiệu Trung Quốc. Và đáng ngạc nhiên thay, ta cũng không thể mong chờ rằng người chỉ biết ngôn ngữ kí hiệu Anh lại hiểu được ngôn ngữ kí hiệu Mĩ. Hai ngôn ngữ kí hiệu này đã phát triển theo hai hướng rất khác biệt suốt hơn 200 năm qua. Có một số kí hiệu tương đồng trong hai hệ thống nhưng điều đó không đủ để khiến người dùng ngôn ngữ này hiểu được ngôn ngữ kí hiệu của người kia.[ ... ]
Tất cả những khái niệm quan trọng mà ta dùng đến trong việc nghiên cứu ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết cũng vẫn cần thiết khi ta nói đến ngôn ngữ kí hiệu. Ví dụ, ta sẽ thấy có các phương ngữ khác nhau. Người khiếm thính ở một vùng này sẽ có vài kí hiệu khác với người khiếm thính ở vùng khác. [ ... ] Ví dụ, kí hiệu cho “bố”, là gập thẳng bốn ngón tay vào lòng bàn tay, như hình vẽ bên trái hoặc khum các ngón như hình bên phải:

Tất cả những điều này đều dẫn đến một nhận định: Không bao giờ nên coi kí hiệu khiếm thính chỉ là những cử chỉ đơn giản. Ngôn ngữ kí hiệu thực sự phức tạp, hữu dụng, và đẹp như bất kì ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ viết nào.
(Theo David Crystal, Câu chuyện ngôn ngữ, Phạm Minh Điệp dịch, NXB Thế giới và Nhã Nam, 2022, tr.150-154)
Câu 6/12
A. Được dịch trực tiếp từ lời nói một cách dễ dàng.
B. Sử dụng chuỗi kí hiệu theo cấu trúc câu.
C. Chỉ cần vài nghìn kí hiệu để diễn đạt đủ ý.
Lời giải
- Ngay đoạn đầu: “Các ngôn ngữ kí hiệu... có vài nghìn kí hiệu có thể sử dụng theo một chuỗi, thực hiện vai trò của các câu.”. Đây chính là lí do giúp ngôn ngữ kí hiệu biểu đạt được những tư tưởng phức tạp.
- Vì sao các đáp án khác sai?
A. Được dịch trực tiếp từ lời nói → Tác giả còn nhấn mạnh người khiếm thính không chỉ đơn giản dịch từng từ.
C. Chỉ cần vài nghìn kí hiệu → Số lượng kí hiệu không phải nguyên nhân chính.
D. Có phiên dịch viên hỗ trợ → Chỉ là hoạt động hỗ trợ giao tiếp.
=> Chọn B.
Câu 7/12
A. Ngôn ngữ kí hiệu và ngôn ngữ nói tương đồng.
B. Biểu cảm nét mặt quan trọng nhất khi giao tiếp.
C. Cách sắp xếp kí hiệu thành chuỗi tùy theo mỗi người.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 8/12
A. Sự quan trọng của ngôn ngữ cử chỉ tay trong ngôn ngữ kí hiệu.
B. Sự cần thiết phải sử dụng phương ngữ để giải mã ngôn ngữ kí hiệu.
C. Sự đa dạng về văn hóa trong giao tiếp kí hiệu ở các quốc gia.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 9/12
A. Ngôn ngữ kí hiệu: Cách giao tiếp đơn giản
B. Ngôn ngữ kí hiệu: Hệ thống độc lập và phức tạp
C. Ngôn ngữ kí hiệu: Cách dịch từ ngôn ngữ nói
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 10/12
A. Ngôn ngữ kí hiệu đòi hỏi phải kết hợp tự nhiên nét mặt và cử chỉ trong giao tiếp.
B. Ngôn ngữ kí hiệu trực quan, sinh động, truyền đạt hiệu quả các ý tưởng cơ bản.
C. Ngôn ngữ kí hiệu thích ứng theo địa phương, sáng tạo, giàu khả năng biểu đạt.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Xem tiếp với tài khoản VIP
Còn 6/12 câu hỏi, đáp án và lời giải chi tiết.
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.