Danh sách câu hỏi ( Có 2,400,478 câu hỏi trên 48,010 trang )

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:Nghiên cứu mới về siêu dẫn gần nhiệt độ phòng(1) Vật  liệu  được  coi  là  chất  siêu  dẫn  khi  năng lượng điện được  truyền đi với hiệu suất  100%.  Các chất siêu dẫn có thể  ứng dụng trong một loạt các thiết  bị như máy chụp cộng hưởng từ  trong  bệnh  viện.  Tuy nhiên,  sự  phát triển của các ứng dụng này  đã bị cản trở bởi vì trạng thái siêu  dẫn chỉ xuất hiện tại nhiệt độ thấp  hơn nhiệt độ phòng (295 K).  Trong  một  bài  báo  mới được  công  bố  trên Tạp chí Nature * , Drozdov và  các cộng sự đã  báo cáo một kết  quả đáng ngạc nhiên về tính chất  siêu dẫn của lanthanum hydride.  Khi bị nén tại một áp suất lớn hơn  một  triệu  lần  áp  suất  khí  quyển  của  trái  đất,  lanthanum  hydride  sẽ xuất hiện tính chất siêu dẫn ở  nhiệt độ 250 K - nhiệt độ cao nhất  của chất siêu dẫn từng được biết  đến.(2) Siêu  dẫn  được  phát  hiện  lần  đầu tiên trong thủy ngân tại nhiệt  độ dưới 4 K vào năm 1911. Nhiệt  độ  mà  tại  đó  vật  liệu  trở  thành  chất siêu dẫn được gọi là nhiệt độ  tới hạn.  Sau khi phát hiện ra siêu  dẫn, người ta thấy rằng cần thiết  phải tìm kiếm các vật liệu có nhiệt  độ tới hạn lớn hơn 4 K.  Trong hơn  một thế kỷ qua, nhiều chất siêu  dẫn đã được phát hiện, giá trị của  nhiệt độ tới hạn liên tiếp được cải  thiện và dần hướng tới mục tiêu  cuối  cùng  là  bằng  với  nhiệt  độ  phòng  (25 o C,  tương  đương  với  298 K).(3) Drozdov và  các  cộng  sự  đã  phá vỡ kỷ lục vào năm 2014 khi  họ  phát  hiện  ra  rằng  hydrogen  sulfide (một chất gây ra mùi thối  của  trứng  gà)  thể  hiện  tính  chất  siêu  dẫn  tại  nhiệt  độ  tới  hạn  khoảng  200  K  khi  nó  được  nén  với  một  áp  suất  gấp  2  triệu  lần  áp  suất  khí  quyển.  Sau  đó,  vào  năm 2018, hai nhóm nghiên cứu  độc  lập  (Drozdov  và  cộng  sự;  Somayazulu và cộng sự) đã công  bố  gần  như  đồng  thời  kết  quả  nghiên  cứu  của  mình  với  khẳng  định,  lanthanum  hydride  có  thể  xuất hiện tính chất siêu dẫn ở nhiệt  độ cao hơn (từ 215 đến 280 K).(4) Đặc điểm chung của các chất  siêu  dẫn  hydrogen  sulfide  và  lanthanum  hydride  là  chúng  rất  giàu hydro và tính chất siêu dẫn  chỉ  xuất  hiện  dưới  một  áp  suất  cực cao (hơn một triệu lần áp suất  khí quyển).  Trong điều kiện khắc  nghiệt như vậy, các liên kết hóa  học bị thay đổi đáng kể và hình  thành các cấu trúc mới không ổn  định.  Trong trường hợp lanthanum  hydride, áp suất cao đã dẫn đến  sự hình thành cấu trúc LaH 10 , cấu  trúc  hóa  học  này  có  hàm  lượng  hydro cao hơn nhiều so với cấu  trúc của lanthanum hydride tại áp  suất khí quyển.(5) Để đạt được áp suất cực cao  (gần bằng một nửa áp suất tại lõi  của trái đất), Drozdov và các cộng  sự đã sử dụng một thiết bị gọi là  tế bào đe bằng kim cương.  Thiết  bị này có thể nằm gọn trong lòng  bàn tay và tạo áp lực bằng cách  nén  mẫu,  trong  đó  mẫu  được  nằm trong một lá kim loại mỏng,  giữa hai viên kim cương có hình  dạng dẹt. Tuy nhiên cần  lưu  ý  rằng,  với  cấu  tạo  này  chỉ  một  số  phép  đo  là  có  thể  thực  hiện được,  vì mẫu có kích thước  rất nhỏ (~0,01 mm) và được bao  quanh bởi các lá kim loại và kim  cương  có  kích  thước  tương  đối  lớn.    Hơn nữa, để có thể đo được  độ  dẫn  điện,  các  dây  dẫn  điện  cần phải tiếp xúc với mẫu, nhưng  phải cách ly điện bằng giấy bạc.(6) Các  tác  giả  đã  vượt  qua  được  những  thách  thức  trong  việc  thiết  kế thí nghiệm  siêu dẫn với áp suất  cực cao và đã báo cáo những kết  quả  quan  trọng  về  tính  chất  siêu  dẫn tại nhiệt độ cao của lanthanum  hydride.  Để chứng minh rằng một  vật liệu là siêu dẫn, các nhà nghiên  cứu  thường  kiểm  tra  3  tính  chất  của vật liệu như sau: điện trở bằng  không, sự  giảm nhiệt độ tới hạn dưới  một từ trường  và từ thông bị đẩy ra  khỏi  bên  trong  vật  liệu  (một  hiện  tượng  vật  lý  được  gọi  là  hiệu  ứng  Meissner).  Drozdov  và  các  cộng  sự đã phát hiện ra 2 đặc tính đầu  tiên của chất siêu dẫn.  Đặc tính cuối  cùng - hiệu ứng Meissner đã không  thể quan sát được vì các mẫu quá  nhỏ.(7) Việc tìm kiếm tính chất siêu dẫn  nhiệt độ cao trong các vật liệu giàu  hydro có thể được liên kết với các  dự đoán trước đó vào năm 2004. Dự  đoán này dựa trên một lý thuyết cho  rằng các nguyên tố với khối lượng  nguyên tử thấp có thể đóng góp vào  giá trị nhiệt độ tới hạn cao.  Hydro  là nguyên tố nhẹ nhất trong bảng  tuần hoàn, do đó tối ưu cho nhiệt  độ tới hạn cao.  Dựa trên logic này,  việc thay thế hydro bằng một đồng  vị  deuterium  nặng  hơn  sẽ  dẫn  tới  giảm nhiệt độ tới hạn.  Drozdov và  các cộng sự đã quan sát tính chất  siêu  dẫn  với  đồng  vị  này  và  thấy  rằng nhiệt độ tới hạn của lanthanum  deuteride thấp hơn so với lanthanum  hydride. Kết luận này gần như chính  xác theo dự đoán của lý thuyết.(8) Từ quan điểm khoa học, những  kết quả này cho thấy chúng ta đang  bước  vào  giai  đoạn  chuyển  đổi  từ  tìm  kiếm  chất  siêu  dẫn  bằng  thực  nghiệm,  trực  giác  hoặc  may  mắn  sang tìm kiếm chất siêu dẫn dựa trên  các hướng dẫn được dự đoán bởi lý  thuyết. Nhiệt độ tới hạn của vật liệu  siêu dẫn từ lâu đã được coi là một  trong  những  tính  chất  khó  có  thể  tính toán chính xác.  Tuy nhiên, các  thực nghiệm trên hydrogen sulfide  và lanthanum hydride đã được thúc  đẩy bởi các kết quả từ tính toán lý  thuyết.  Những thành công đáng chú  ý này dường như được thúc đẩy bởi  các tiến bộ trong các phương pháp  tính toán gần đây.(9) Tầm quan trọng thực tế của tính  chất  siêu  dẫn  trong  các  vật  liệu  được tổng hợp với số lượng cực nhỏ  tại một áp suất lớn hơn áp suất khí  quyển một triệu lần là gì?  Câu trả  lời phụ thuộc vào việc các trạng thái  siêu dẫn có thể được phục hồi tại  áp suất khí quyển hay không.  Bản  thân kim cương là một ví dụ về vật  liệu  được  hình  thành  tại  áp  suất  cao nhưng có thể tồn tại trong áp  suất  khí  quyển.  Nỗ  lực  sản  xuất  kim cương tổng hợp cung cấp động  lực đáng kể cho sự phát triển của  các phương pháp thực nghiệm với  áp  suất  cao.  Tuy  nhiên,  ngày  nay  kim cương tổng hợp được phát triển  bằng cách sử dụng một kỹ thuật với  áp  suất  thấp  gọi  là  lắng  đọng  hơi  hóa học.  Về mặt lạc quan, cuối cùng  có thể sử dụng các phương pháp với  áp suất thấp tương tự để tạo ra các  chất siêu dẫn siêu bền được phát  hiện ban đầu tại áp suất cao.(10) Trong vài năm tới, các thí nghiệm  có  thể  sẽ  tập  trung  vào  việc  tìm  kiếm tính siêu dẫn trong các vật liệu  giàu hydro có áp suất thấp hơn.  Do  đó dường như nhiều khả năng giấc  mơ  siêu  dẫn  nhiệt  độ  phòng  có  thể được thực hiện trong tương lai  gần.  Tại  thời  điểm  đó,  thách  thức  lớn  sẽ  chuyển  từ  đẩy  nhiệt  độ  tới  hạn lên cao hơn sang đẩy áp suất  cần thiết xuống thấp hơn.(Nguồn: “Nghiên cứu mới về siêu dẫn gần nhiệt độ phòng”, Nguyễn Tuấn Hưng, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 9, năm 2019)Nội dung chính của văn bản trên là?

Xem chi tiết 1 K lượt xem 4 năm trước

1. Ngành sản xuất chế tạo ô tô và máy nông nghiệp là hai ngành xương sống trong nền công nghiệp của nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, mặc dù ngành sản xuất lắp ráp ô tô có tới khoảng 21 doanh nghiệp lắp ráp OEM, 83 nhà cung cấp cấp 1 và trên 300 nhà cung cấp cấp 2-3 nhưng tỷ lệ nội địa hóasản phẩm ô tô chỉ ở mức 13%, thấp hơn rất nhiều so với các nước ASEAN khác như Thái Lan (84%), Malaysia (80%) hay Indonesia (75%). Khi lưu thông trong khu vực, do điều khoản phải có tỷ lệ nội địa hóa trên 40% mới được hưởng ưu đãi thuế (VAT = 0%), vài năm qua một số doanh nghiệp lớn phải gấp rút đầu tư công nghệ, đào tạo nâng cao năng lực và tìm kiếm đối tác phụ trợ mới. 2. Thông thường, một chiếc ô tô có khoảng 25,000 - 50,000 chi tiết liên quan đến động cơ, khung gầm, vỏ xe và các hệ thống khác. Kết hợp với đánh giá năng lực công nghệ hiện có như trên, nhóm nghiên cứu của Trung tâm Thiết kế, chế tạo và thử nghiệm (SatiTech) thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đã chỉ ra những cụm công nghệ quan trọng cần phát triển để đồng thời hỗ trợ cho việc nội địa hóa nhiều chi tiết sản phẩm, ví dụ công nghệ tối ưu hóa khả năng vận hành, chọn phôi, đo đạc tính chất vật lý, độ bền, số hóa dữ liệu,... 3. Tuy nhiên, ngành ô tô trên thế giới đang có một bước ngoặt lớn. Việc xuất hiện những đột phá trong công nghệ về pin điện, in 3D và trí tuệ nhân tạo đã mở ra cơ hội cho thị trường xe điện thế giới phát triển. Bên cạnh “kẻ tạo sóng” Tesla, một loạt ông lớn như Ford, Daimler, BMW, GM hay Chevrolet cũng đang đổ hàng trăm tỷ USD vào R&D trong phân khúc này. Theo dữ liệu sáng chế quốc tế, những năm gần đây số bằng sáng chế trong lĩnh vực ô tô liên quan đến hệ thống điều khiển, hệ thống kê trợ, tích hợp AI, xe điện, ... có xu hướng tăng nhanh. 4. Do vậy, theo TS. Nguyễn Trường Phi, Giám đốc SatiTech, về mặt sản phẩm, Va Nam sẽ cần phát triển cả những chi tiết để tham gia vào chuỗi giá trị như khung gầm sắt xi, cụm hộp số, hệ thống bánh lái..., đồng thời tìm cách làm chủ những công nghe lõi về động cơ diesel trong ngắn hạn, công nghệ về pin và động cơ điện trong dài hạn. Điều này liên quan đến nhu cầu tiêu dùng và an ninh quốc gia, lẫn sự cạnh tranh thị trường trong tương lai”. 5. Ngược lại với ô tô, lĩnh vực cơ khí chế tạo máy nông nghiệp ở Việt Nam có lịch sử lâu đời hơn và đã tích lũy được trình độ công nghệ nhất định. Nhiều loại máy đã đạt đến mức độ 75-85% so với thế giới và có tỷ lệ nội địa hóa tương đối khả quan, chẳng hạn các loại máy xay xát, máy đánh bóng gạo, máy gặt đập liên hợp hay động cơ diesel mã lực (HP). 6. Thị trường máy nông nghiệp cũng giàu tiềm năng do Chính phủ đang thúc đẩy quá trình cơ giới hóa nông nghiệp. Bộ NN&PTNT dự báo từ nay đến năm 2025, nhu cầu các loại máy nông nghiệp có thể tăng từ 1000-3000 chiếc/năm. Tuy nhiên, hiện phần lớn “sân chơi” thuộc về khối ngoại, khi Việt Nam đang phải nhập khẩu 70% máy móc, thiết bị phục vụ nông nghiệp, chủ yếu từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và chi còn 30% thị phần cho sản phẩm sản xuất trong nước. Sức cạnh tranh của máy nông nghiệp Việt còn thấp vì giá thành cao hơn nhập khẩu từ 15-20%. Với đặc điểm ngành nông nghiệp sản xuất nhỏ và manh mún, người nông dân cũng ít khi lựa chọn các loại máy công suất cao. 7. Do vậy, nhóm nghiên cứu cho rằng, lộ trình trong 10 năm tới là ngành cơ khí chế  tạo máy nông nghiệp cần khắc phục được hạn chế lắp ráp thủ công để chuyển sang lắp ráp dây chuyền hoặc robot, đẩy mạnh xây dựng năng lực đo kiểm, đồng thời phát triển công nghệ in 3D và mô phỏng để hạ giá thành sản phẩm cũng như thiết kế tốt hơn theo nhu cầu của từng phân khúc khách hàng. Mục tiêu là chiếm được 40% thị trường nội địa trong 5 năm tới, và đạt được 60% thị phần đến năm 2030. 8. “Về sản phẩm, chúng tôi cho rằng trong ngắn hạn phải chiếm được thị phần các loại máy có trình độ chế tạo ở mức trung bình, công suất cỡ trung nhưng nhu cầu cao như máy kéo, máy canh tác, máy gieo trồng, máy thu hoạch, hệ thống sấy và bảo quản...] Về dài hạn, trên cơ sở các loại máy đã có kết hợp với chính sách thúc đẩy thị trường của nhà nước, chúng ta có thể đầu tư nâng công suất, đào tạo nhân lực, tiến tới các thiết kế có trình độ chế tạo cao, có khả năng xuất khẩu.” – TS Phi nhấn mạnh. (Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, Cơ khí chế tạo ô tô và máy nông nghiệp: Từ bản đồ công nghệ đến lộ trình 10 năm, Cổng thông tin của Văn phòng các chương trình Khoa học và Công nghệ Quốc gia, ngày 15/11/2020) Nội dung chính của bài đọc trên là?

Xem chi tiết 575 lượt xem 3 năm trước

Ứng dụng công nghệ mới trong sấy gỗ rừng trồng (1) Với quỹ đất lâm nghiệp chiếm  hơn 55% diện tích tự nhiên, trong  đó  rừng  trồng  có  diện  tích  gần  120.000 ha, hàng năm cung cấp  sản lượng gỗ có thể khai thác trên  300.000 m 3  (keo, bạch đàn...), Phú  Thọ là tỉnh có tiềm năng nguyên  liệu  gỗ  rừng  trồng  rất  lớn.  Mấy  năm gần đây, các cơ sở chế biến  gỗ bóc, gỗ thanh quy mô hộ gia  đình đang phát triển nhanh tại các  huyện có nhiều rừng trồng ở Phú  Thọ (toàn tỉnh có khoảng 550 cơ  sở chế biến gỗ nhỏ lẻ). Tuy nhiên,  công nghiệp chế biến, sử dụng gỗ  rừng trồng ở đây còn bị đánh giá  là thiếu quy hoạch  và phát triển  không bền vững, hiệu quả sử dụng  nguyên liệu gỗ thấp, chưa mang  lại thu nhập xứng đáng cho người  trồng rừng và góp phần phát triển  kinh tế địa phương. Nguyên nhân  chủ yếu là do gỗ được sử dụng  ở dạng thô: bán gỗ tròn cho các  nhà máy giấy, một số cơ sở thu  mua gỗ làm nguyên liệu băm dăm  gỗ xuất khẩu, một phần nhỏ khác  làm nguyên liệu gỗ bóc. Lượng gỗ  sử dụng làm gỗ xẻ đóng đồ mộc  hầu như không đáng kể. Theo kết  quả điều tra, hiện tại ở Phú Thọ  chưa có cơ sở chế biến gỗ xẻ và  sấy khô quy mô lớn, sử dụng công  nghệ và thiết bị tiên tiến để có thể  tạo ra sản phẩm gỗ đáp ứng yêu  cầu sản xuất đồ mộc chất lượng  cao. Các xưởng chế biến gỗ rừng  trồng hiện chủ yếu ở quy mô nhỏ  (công suất tiêu thụ nguyên liệu từ  10  đến  20  m 3 /ngày),  sản  phẩm  gỗ xẻ chủ yếu sử dụng làm cốp  pha  xây  dựng  hoặc  làm  nguyên  liệu đóng các sản phẩm mộc dân  dụng  chất  lượng  thấp,  phục  vụ  tiêu dùng tại địa phương. Đây là  nguyên nhân chính hạn chế khả  năng đưa cây keo (sản phẩm chủ  lực của rừng trồng) trở thành hàng  hóa và là sản phẩm đặc trưng của  bà con nhân dân miền núi.   (2) Tăng  cường  và  chủ  động  khai  thác  nguồn  nguyên  liệu  trong  nước,  đặc  biệt  là  sử  dụng  gỗ rừng trồng là định hướng của  ngành công nghiệp chế biến gỗ  Việt Nam. Trước nhu cầu tiêu thụ  nguyên liệu gỗ nói chung, gỗ keo  nói riêng của ngành công nghiệp  chế biến gỗ ngày càng tăng, việc  đầu tư xây dựng một mô hình chế  biến, sấy gỗ rừng trồng nói chung  và gỗ keo nói riêng với công nghệ  tiên tiến trong thời điểm hiện nay  là  rất  cần  thiết  và  phù  hợp  với  điều kiện của tỉnh Phú Thọ, nhằm  góp phần tạo việc làm, tăng thu  nhập cho người trồng rừng (nhờ  việc thu mua gỗ tròn làm gỗ xẻ  giá  cao  hơn).  Xuất  phát  từ  thực  tiễn đó, Công ty Cổ phần Thương  mại và Xây dựng Ngọc Ninh đã  đề xuất và được phê duyệt thực  hiện dự án “Ứng dụng công nghệ  mới  trong  sấy  gỗ  rừng  trồng  tại  tỉnh  Phú  Thọ”  (thuộc  Chương  trình nông thôn miền núi giai đoạn  2016-2025).  Dự  án  được  thực  hiện với sự hỗ trợ công nghệ của  Viện  Nghiên  cứu  Công  nghiệp  rừng (Viện Khoa học Lâm nghiệp  Việt Nam). (3) Nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm nhờ ứng dụng công nghệ mới Dự  án  “Ứng  dụng  công  nghệ  mới  trong  sấy  gỗ  rừng  trồng  tại  tỉnh Phú Thọ” được thực hiện với  mục  tiêu  xây  dựng  và  đưa  vào  vận hành hệ thống lò sấy gỗ với  công nghệ và thiết bị tiên tiến, có  chế độ sấy được điều khiển, giám  sát tự động, công suất 90 m 3 /mẻ  nhằm  nâng  cao  chất  lượ ng  gỗ  phục vụ chế biến ván ghép thanh,  góp phần sử dụng hiệu quả nguồn  nguyên liệu gỗ rừng trồng  ở địa  phương,  phát  triển  chuỗi  cung  ứng và tiêu thụ sản phẩm gỗ keo  chất lượng cao.   (4) Sau  hơn  2  năm  thực  hiện  (tháng  11/2016-4/2019),  dự  án  đã hoàn thành tốt các mục tiêu và  nội dung đề ra. Cụ thể: dự án đã  xây dựng được 1 hệ thống lò sấy  gỗ với công nghệ và thiết bị tiên  tiến, chế độ sấy được điều khiển,  giám sát tự động, công suất sấy  120 m 3 /mẻ (vượt hơn 30% so với  kế hoạch) tại xã Yên Kiện, huyện  Đoan  Hùng,  tỉnh  Phú  Thọ;  xây  dựng  được  quy  trình  công  nghệ  sấy  gỗ  rừng  trồng  (gỗ  keo)  phù  hợp  với  hệ  thống  lò  sấy  đã  xây  dựng; tiếp nhận thành công công  nghệ sấy gỗ điều khiển, giám sát  tự động để sấy gỗ xẻ từ nguồn gỗ  keo lai và keo tai tượng... (5) Bên cạnh đó, dự án còn đào tạo  được 5 kỹ thuật viên làm chủ công  nghệ sấy gỗ rừng trồng, từ bước  lựa chọn, phân loại gỗ trước sấy;  sắp xếp đưa gỗ vào - ra lò sấy;  kỹ thuật sấy gỗ xẻ từ nguồn gỗ  keo lai và keo tai tượng; kỹ thuật  vận hành lò hơi; kỹ thuật đánh giá  chất lượng gỗ xẻ trước và sau khi  sấy, đồng thời tổ chức tập huấn  cho 70 lao động phổ thông về kỹ  thuật vận hành hệ thống sấy gỗ...  Đặc  biệt,  trên  cơ  sở  công  nghệ  được chuyển giao từ Viện Nghiên  cứu Công nghiệp rừng, dự án đã  sản xuất được 500 m 3  sản phẩm  gỗ sấy đạt độ ẩm theo yêu cầu  (10-12%), tỷ lệ hư hỏng gỗ sấy do  khuyết tật thấp (dưới 15%). Sản  phẩm gỗ sấy của dự án đã được  Công ty TNHH Trung Thành (Phú  Thọ)  ký  hợp  đồng  tiêu  thụ  với  công suất 4.000 m 3 /năm. (6) Nói về hiệu quả của dự án, ông  Đỗ Hữu Ngọc - Chủ nhiệm dự án  cho biết: về mặt kinh tế, nếu bán  gỗ xẻ không sấy thì lợi nhuận thu  được lớn hơn bán gỗ tròn khoảng  130.000  đồng/m 3 ,  còn  khi  bán  gỗ xẻ đã sấy lợi nhuận tăng lên  khoảng  370.000  đồng/m 3 .  Như  vậy, lợi nhuận công ty thu được  khi bán gỗ xẻ đã sấy so với không  sấy  hiện  tại  là  khoảng  240.000  đồng/m 3 , con số này chưa phải là  cao nhất do chi phí ban đầu (khấu  hao tài sản, thiết bị) còn lớn. Sau khi phát huy hết công suất, giảm  chi phí khấu hao tài sản, chi phí  nguyên liệu đốt nhờ tận dụng phế  phẩm từ quá trình xẻ gỗ, lợi nhuận  Công ty thu được sẽ cao dần lên.  Bên  cạnh hiệu  quả  kinh  tế  trực  tiếp, hệ thống sấy gỗ của Công  ty đi vào hoạt động còn tạo thêm  công  ăn  việc  làm  thường  xuyên  cho gần 30 công nhân.   (7) Về hiệu quả xã hội, dự án được  triển  khai  thành  công  đã  tạo  ra  sản  phẩm  mới  cho  địa  phương,  thúc  đẩy  phát  triển  nghề  trồng  rừng và công nghiệp chế biến gỗ  ở địa phương; tạo thêm công ăn  việc làm cho hàng nghìn lao động  vùng nguyên liệu, tăng thu nhập  cho người lao động, góp phần hỗ  trợ thiết thực cho chương trình xóa  đói giảm nghèo của tỉnh, nhất là ở  vùng sâu, vùng xa. Kết quả của  dự  án  còn  là  mô  hình  hữu  hiệu  giới  thiệu  việc  ứng  dụng  khoa  học và công nghệ phục vụ phát  triển kinh tế - xã hội nông thôn,  miền núi để nhân rộng ra các địa  phương khác. (Nguồn: “Ứng dụng công nghệ mới trong sấy gỗ rừng trồng”, Công Minh, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 9, năm 2019) Nội dung chính của đoạn (1) là?

Xem chi tiết 410 lượt xem 3 năm trước

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:KH&CN thúc đẩy chăn nuôi bò thịt tại một số tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc(1) Những  năm  gần  đây,  chương  trình  quốc  gia  về  cải  tạo  đàn  bò  nội bằng các giống bò Zebu như:  Brahman, Sahiwal, Droutmaster...  dần  được  quan  tâm  ở  nhiều  địa  phương trên cả nước, đặc biệt là  các tỉnh đồng bằng và duyên hải  miền  Trung.  Trên  cả  nước,  số  lượng bò lai Zebu tăng từ 25 lên  50-75%, trong đó nhiều tỉnh/thành  phố như Hà Nội, Hưng Yên, Nghệ  An  đạt  70-80%.  Việc  Zebu  hóa  đã giúp nâng tầm vóc đàn bò lên  25-35%, tỷ lệ thịt xẻ cũng tăng 17- 22% so với bò địa phương. Song  chương  trình  chủ  yếu  triển  khai  ở những vùng có điều kiện thuận  lợi như đồng bằng, các vùng ven  đô. Ở các tỉnh Trung du, miền núi  phía Bắc như Phú Thọ, Vĩnh Phúc,  Tuyên Quang, số lượng tổng đàn  thấp  (lần  lượt  khoảng  105.200,  102.950,  21.220  con),  việc  chăn  nuôi bò còn phân tán ở các hộ gia  đình,  chủ  yếu  là  giống  bò  vàng  địa phương (chiếm 80%) có khối  lượng  trưởng  thành  thấp,  sinh  trưởng  chậm,  khối  lượng  trung  bình con đực là 220-250 kg và con  cái từ 160-180 kg, tỷ lệ thịt xẻ chỉ  khoảng 40-42% khối lượng sống.  Từ năm 1995 trở lại đây, mặc dù  các  địa  phương  này  đã  đầu  tư  cho công tác cải tạo đàn bò theo  hướng Zebu hoá nhưng do kinh phí  còn hạn hẹp, đầu tư dàn trải, thiếu  đồng bộ và sự hiểu biết của đồng  bào các dân tộc thiểu số chưa cao  nên kết quả thu được còn hạn chế.  (2) Mặc  dù  3  tỉnh  Phú  Thọ,  Vĩnh  Phúc và Tuyên Quang đều thuộc  vùng trung du, miền núi, có điều  kiện  tự  nhiên  phù  hợp  cho  chăn  nuôi gia súc lớn, đặc biệt là trâu,  bò, nhưng việc chăn nuôi bò vẫn  theo tập quán lạc hậu, chăn nuôi  quảng canh, quy mô đàn nhỏ lẻ,  thường chỉ 1-2 con/hộ... nên chưa  thu hút được sự quan tâm của các  doanh nghiệp. Thêm vào đó, việc  dự trữ thức ăn xanh, khô, thô cho  bò vào mùa rét còn hạn chế, do  đó cứ đến mùa đông là hàng trăm  con trâu, bò ở các huyện vùng cao  bị chết đói, rét, gây thiệt hại không  nhỏ về kinh tế - xã hội.(3) Nhằm thúc đẩy phát triển nghề  chăn  nuôi  bò  tại  vùng  đồng  bào  dân  tộc  thiểu  số  ở  các  tỉnh  Phú  Thọ,  Vĩnh  Phúc,  Tuyên  Quang,  giúp khai thác hiệu quả tiềm năng  về điều kiện tự nhiên, nguồn lao  động  nhàn  rỗi  ở  địa  phương,  Bộ  KH&CN  đã  phê  duyệt  triển  khai  dự án “Ứng dụng tiến bộ KH&CN  xây  dựng  mô  hình  nuôi  bò  thịt  ở  vùng  đồng  bào  dân  tộc  thiểu  số  tại một số tỉnh Trung du, miền núi  phía Bắc”, thuộc “Chương trình hỗ  trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ  KH&CN  thúc  đẩy  phát  triển  kinh  tế  -  xã  hội  nông  thôn,  miền  núi,  vùng  dân  tộc  thiểu  số  giai  đoạn  2016-2025”  (Chương  trình  nông  thôn  miền  núi).  Dự  án  do  Viện  Chiến lược và Chính sách Dân tộc  chủ trì, cơ quan chuyển giao công  nghệ  là  Trung  tâm  Nghiên  cứu  Bò và Đồng cỏ Ba Vì (Viện Chăn  nuôi,  Bộ  Nông  nghiệp  và  Phát  triển nông thôn). Qua hơn 2 năm  thực hiện, dự án đã chuyển giao  nhiều  tiến  bộ  KH&CN  về  chăn  nuôi bò, giúp nâng cao năng suất,  chất lượng đàn bò của địa phương;  đồng thời tuyên truyền, tập huấn  làm thay đổi nhận thức của đồng  bào  từ  chăn  thả  sang  chăn  nuôi  công nghiệp theo hướng chủ động  thức ăn thô, xanh thông qua trồng  cỏ ở những vùng đất trồng trọt hiệu  quả thấp hoặc chưa sử dụng. Kết  quả đạt được của dự án mở ra tiềm  năng  lớn  giúp  đảm  bảo  vệ  sinh  môi trường, giải quyết việc làm cho  vùng đồng bào dân tộc thiểu số,  góp phần từng bước đưa người dân  địa phương thoát nghèo, vươn lên  làm giàu trên chính mảnh đất quê  hương mình.(4) Nhiều  điểm  sáng  về  áp  dụng  công  nghệ, kỹ thuật mới cho vùng đồng bào  dân tộc thiểu sốDự  án  đã  chuyển  giao  nhiều  tiến  bộ  KH&CN  giúp  người  chăn  nuôi  ở  các  địa  phương  dần  thích  nghi và hướng tới tiếp cận với mô  hình phát triển đàn bò quy mô lớn  hơn, tập trung hơn. Cụ thể:(5) Dự án đã thực hiện lai tạo giữa  giống bò đực Brahman với bò cái  của địa phương thông qua 2 hình  thức:  sử  dụng  tinh  đông  lạnh  của  giống  bò  thuần  Brahman  đỏ  chất  lượng cao để thụ tinh nhân tạo cho  bò cái địa phương ở một số khu vực  có  số  lượng  bò  cái  tương  đối  tập  trung và địa hình thuận tiện để tạo  “phong trào” cải tiến đàn bò thịt; sử  dụng bò đực 3/4 máu Brahman đỏ  phối giống trực tiếp với bò cái nền  của mô hình. Nhờ đó, đã tạo được  đàn bò có tỷ lệ máu ngoại cao làm  nền phục vụ công tác cải tạo giống  sau  này,  giúp  cải  thiện  tầm  vóc,  tăng năng suất đàn bê sinh ra, bò  trưởng thành có tầm vóc lớn hơn, tỷ  lệ thịt xẻ tăng từ 15 đến 20% so với  giống bò địa phương.(6) Bên  cạnh  phương  pháp  lai  tạo  giống được chuyển giao, dự án đã  hỗ  trợ  triển  khai  nhiều  tiến  bộ  kỹ  thuật  như:  chọn  bò  cái  làm  giống  có  tỷ  lệ  sinh  sản,  sinh  trưởng  tốt  hơn;  phát  hiện  bò  động  dục,  xác  định thời gian phối giống thích hợp  trong kỹ thuật thụ tinh nhân tạo cho  bò...; chăm sóc nuôi dưỡng bò cái  qua  các  giai  đoạn:  sơ  sinh,  tơ  lỡ,  chửa đẻ, nuôi con; tập cho bê con  ăn sớm để tách mẹ sớm, giúp bò  mẹ sớm động dục trở lại sau khi đẻ;  chăm sóc nuôi dưỡng và vỗ béo bê,  bò đực theo từng giai đoạn đến lúc  bán giết thịt; nuôi vỗ béo bò gầy,  bò  thải  loại;  phòng  bệnh,  vệ  sinh  thú y... giúp mang lại hiệu quả cao  trong chăn nuôi. Trong đó, việc áp  dụng quy trình kỹ thuật chăm sóc ở  giai đoạn nuôi nhốt vỗ béo, chuẩn  bị giết thịt không những giúp tăng  năng suất mà còn kiểm soát được  mức độ an toàn của sản phẩm cung  cấp tới người tiêu dùng, đây là kỹ  thuật rất mới đối với đồng bào dân  tộc thiểu số.(7) Để đảm bảo nguồn thức ăn cho  bò trong suốt quá trình nuôi, nhất  là  vào  mùa  rét,  dự  án  đã  hỗ  trợ  trồng và thâm canh giống cỏ VA06  năng suất cao, chất lượng phù hợp  với các huyện vùng dự án, nhờ đó  tạo được nguồn thức ăn xanh thô  chủ động, đồng thời hỗ trợ hiệu quả  công  tác  chuyển  dịch  cơ  cấu  cây  trồng, vật nuôi trong nông nghiệp.  Đặc biệt, dự án còn áp dụng công  nghệ ủ chua để chế biến thức ăn,  giúp  tận  dụng  các  loại  phế,  phụ  phẩm nông nghiệp như rơm rạ, thân  cây ngô, thân, ngọn, lá sắn... tạo ra  công  thức  thức  ăn  tinh  từ  nguồn  nguyên liệu sẵn có tại địa phương.  Việc tạo được khẩu phần ăn có giá  trị dinh dưỡng cao không chỉ giúp  tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả  chăn nuôi, mà còn góp phần bảo vệ  môi trường do tận dụng một lượng  lớn phế phụ phẩm sau thu hoạch và  chế biến thải ra.(8) Trong  công  tác  phòng,  chống  bệnh  tật  cho  bò,  bên  cạnh  việc  áp dụng các kỹ thuật về xây dựng  chuồng trại tập trung, vệ sinh thú y,  xử lý chất thải, giúp chống gió lùa  vào mùa đông, giảm thiểu ô nhiễm  môi trường trong khuôn viên hộ và  làng, bản..., dự án còn chuyển giao  cho  cán  bộ  kỹ  thuật  địa  phương  và người chăn nuôi các biện pháp  phòng,  chữa  bệnh  cho  bò  thông  qua việc sử dụng các loại vắcxin:  tụ huyết trùng, lở mồm long móng...  (9) Đến nay, dự án đã đào tạo được  10  kỹ  thuật  viên,  tập  huấn  cho  hơn 300 lượt người dân trong vùng  tiếp thu và làm chủ các quy trình  kỹ thuật mới. Đồng thời, xây dựng  thành  công  mô  hình  nuôi  bò  sinh  sản với 240 bò cái  nền địa phương  và 4 bò đực 3/4 máu bò Brahman  đỏ.  Số  bê  sinh  ra  sau  đợt  phối  giống lần 1 là 180, gồm 90 con đực  và 90 con cái (hiện có 216 bò cái  đang chửa sau đợt phối giống lần  2). Khối lượng sơ sinh của bê  ≥  22  kg (tăng 10-12% so với bê thường),  khối lượng 3 tháng đạt 90-100 kg,  khối lượng 6 tháng tuổi đạt 115-130  kg,  dự  kiến  sau  24  tháng  tuổi  sẽ  đạt 290-330 kg/con. Dự án còn xây  dựng thành công mô hình trồng cỏ  voi lai VA06 thâm canh năng suất  cao, chất lượng tốt với diện tích 6  ha,  đạt  chỉ  tiêu  350  tấn/ha/năm,  dự kiến đến khi kết thúc sẽ tạo ra  6.300 tấn thức ăn thô xanh.(10) Theo  tính  toán,  sau  khi  dự  án  kết thúc, các mô hình tập trung và  mô hình vệ tinh của dự án sẽ cho  ra 366 con bê lai với trên 50% máu  bò Brahman. Trong số bê lai này,  những con cái sẽ tiếp tục được nuôi  phục vụ nhân giống chất lượng cao  cung  cấp  cho  các  tỉnh  Phú  Thọ,  Tuyên Quang, Vĩnh Phúc; còn bê  đực được nuôi và vỗ béo bán thịt  ở 20 tháng tuổi với khối lượng bình  quân 350 kg/con, tạo ra lượng thực  phẩm chất lượng. Có thể nói, dự án  không chỉ nâng cao trình độ dân trí,  nhận thức về tầm quan trọng của  KH&CN cho người dân vùng cao,  mà còn giúp tăng thu nhập trên 1  đơn vị diện tích đất canh tác, góp  phần  chuyển  dịch  cơ  cấu  ngành  chăn  nuôi,  tạo  nguồn  thu  nhập  đáng  kể  cho  đồng  bào  vùng  dân  tộc và miền núi các tỉnh Phú Thọ,  Tuyên Quang, Vĩnh Phúc.  (Nguồn: “KH&CN thúc đẩy chăn nuôi bò thịt tại một số tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc”, Tuấn Hải, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 9, năm 2019)Phương pháp nuôi bò nào được nhắc đến trong văn bản trên?

Xem chi tiết 1.1 K lượt xem 4 năm trước

1. Do khai thác do trầm một cách tận diệt mà không có biện pháp bảo tồn nên trần hương tự nhiên ở Việt Nam ngày càng hiếm và đắt đỏ. Nghiên cứu về công nghệ tạo trầm hương bền vững do GS.TS. Nguyễn Thế Nhã (Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam) và cộng sự phát triển được kỳ vọng sẽ chấm dứt thực trạng này. 2. “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”, hình ảnh những người săn trầm phải “ngậm ngải tìm trầm” giữa chốn rừng thiêng nước độc, hóa hổ vì nhiều tháng loanh quanh trong rừng có lẽ chỉ tồn tại trong những câu chuyện cổ tích nhưng nỗi vất vả nhọc nhằn để có được những miếng trầm là có thật. 3. “Thực chất, trầm hương là phần gỗ chứa nhựa thơm sinh ra từ thân cây dó" - GS.TS. Nguyễn Thế Nhã cho biết. “Khi cây dó bị thương, cây sẽ hình thành nên những hợp chất để kháng lại sự xâm nhiễm của các vi sinh vật. Dần dần, hợp chất đó biến tính và trở thành trầm”. Cây dó trầm thường có những biểu hiện như: thân cành có 1 bướu, cây nhiều mắt, cây bị bệnh hoặc bị thương; lá cằn cỗi, màu xanh vàng; cây có vỏ kết cấu lõm, lồi và sần sùi, khô nứt, xuất hiện những chấm màu tím, đỏ nâu. 4. Những năm trở lại đây, nhờ nắm được quy luật hình thành trầm hương mà nhiều người đã tiến hành cấy trầm trên cây dó. Ở Việt Nam hiện có sáu loài thuộc chi Do trầm đó là Dó bầu, Dó bà nà, Dó gạch, Dó Vân Nam, Dó trung Quốc và Dó quả nhăn - trong đó Dó bầu là loại phổ biến nhất. “Có nhiều phương pháp khác nhau, trong đó phương pháp đơn giản nhất là vật lý cơ giới – họ sử dụng khoan, dùi nung đỏ, hoặc thậm chí là bóc vỏ quét hóa chất lên. Những phương pháp này vừa cho ra trầm kém chất lượng, mà còn gây hại cho cây” - GS Nhã nhận định. 5. Thêm vào đó, việc khai thác không bền vững quần thể các cây dó trầm trong môi trường sống hoang dã đã dẫn đến sự suy giảm số lượng cá thể tự nhiên, nhiều loài thậm chí có nguy cơ bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên. Là người luôn đau đáu với số phận của cây dó trầm, GS.TS. Nguyễn Thế Nhã luôn đặt ra cho mình câu hỏi: Làm thế nào để khai thác trầm hương mà không tận diệt cây? 6. GS.TS. Nguyễn Thế Nhã nhận ra rằng công nghệ sinh học có thể là hướng khai thác an toàn mà ông đang tìm kiếm. Bước đầu, nhóm nghiên cứu đã tiến hành lấy mẫu các loại có trầm trên khắp Việt Nam, mang về nghiên cứu để phân lập các vi sinh vật - mà chủ yếu là nấm - giúp cây tiết dầu tạo trầm để tạo ra chế phẩm nấmdạng dung dịch. “Có khoảng gần 100 chủng nấm khác nhau, trong đó chúng tôi chọn ra được khoảng bảy chi có khả năng tạo trầm như chị nấm bào tử lưỡi liềm (Fusariumsp.), chi Nấm bào tử lông roi (Pestalotiopsis sp.), chi Nấm mốc (Mucor sp.)...” - TS. Nguyễn Thành Tuấn (Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam), người trực tiếp phân lập nấm, cho biết.      7. Trong tự nhiên, khi sâu đục vào thân cây, chúng tạo ra vết thương khiến cây bị nhiễm nấm. “Để rút ngắn thời gian, chúng tôi mô phỏng vết đục của sâu bằng cách khoan vào một lỗ nhỏ có đường kính 5mm, sau đó truyền chế phẩm nấm vào lỗ để khởi động cơ chế kháng vi sinh vật của cây, từ đó bắt đầu quá trình tạo trầm” – GS Nhã phân tích. 8. Nhóm nghiên cứu đã áp dụng phương pháp này tại huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) và Tiên Phước (Quảng Nam) – vốn được biết đến như xứ sở của các loại trầm. Dù kết quả trầm cho ra chất lượng cao, không gây tổn thương quá nhiều đến cây dó như cách đục lỗ truyền thống, cũng như rút ngắn thời gian tạo trầm, tuy nhiên GS Nhã nhận thấy rằng đây vẫn chưa phải là phương án tối ưu. “Tôi muốn giảm thiểu tối đa vết thương trên cây, cũng như có thể rút ngắn thời gian hình thành trầm nhiều hơn nữa” - ông cho biết. 9. Với kinh nghiệm nhiều năm nghiên cứu về trầm hương, Trung tâm nghiên cứu Jülich, Đức đã hỗ trợ các nhóm dự án sử dụng công nghệ nuôi cấy mô in vitro để tạo ra trầm hương. “Chúng tôi lấy mẫu chồi, cành, lá, hạt của cây dó trầm về xử lý để ra được vật liệu sạch, từ đó kích tạo ra mô sẹo. Điều này không hề ảnh hưởng đến cây trong tự nhiên” – TS. Nguyễn Thành Tuấn mô tả. Sau đó, các nhà khoa học đặt mô sẹo vào môi trường dung dịch, lắc lọ dung dịch để tạo ra thêm mô sẹo, sau đó truyền chế phẩm nấm đã tạo ra từ trước vào dung dịch nuôi cấy mô sẹo - giúp hình thành nên các hợp chất có trong trầm hương. 10. Quá trình này diễn ra nhanh hơn nhiều so với khi tạo trầm ngoài rừng. “Tối thiểu phải mất hai năm để thu được trầm chất lượng, trong khi công nghệ sinh học này chỉ mất vài tháng hoặc thậm chí là vài tuần để thu được thành phẩm” - GS Nhã cho biết. “Qua phân tích, loại trầm nhân tạo trong phòng thí nghiệm có đầy đủ những hợp chất cơ bản để tạo hương thơm như trầm ngoài tự nhiên”. 11. Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục cải tiến công nghệ tạo trầm ngoài tự nhiên và trong phòng thí nghiệm. “Cùng một loài dó bầu, nhưng ở mỗi vùng miền khác nhau thì vi sinh vật tạo thành và chất lượng trầm sẽ khác nhau. Ảnh hưởng của khí hậu tới quá trình hình thành trầm hương được đánh giá thông qua ảnh hưởng của các thông số đại diện là nhiệt độ, độ ẩm. Nhiệt độ và độ ẩm ảnh hưởng đến khả năng hút chế phẩm sinh học, quá trình gỗ biến đổi màu để hình thành trầm hương”. Chính vì thế, nhóm nghiên cứu đang tiến hành lấy mẫu phân lập các loài nấm ở dó trầm tại khắp các tỉnh thành để tạo ra được các chế phẩm phù hợp với mỗi loài cây. (Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, Để không còn phải “ngậm ngải tìm trầm”, Cổng thông tin của Văn phòng các chương trình Khoa học và Công nghệ Quốc gia, ngày 03/12/2020) Ý nào sau đây thể hiện rõ nhất nội dung chính của bài đọc trên?

Xem chi tiết 1 K lượt xem 3 năm trước

Cứng hóa bùn – Giải pháp hiệu quả để xử lý nền đất yếu (1) Cứng hóa bùn là việc trộn vật  liệu kết dính hoạt tính vào trong  bùn  thải,  bùn  nạo  vét.  Cứng  hóa  bùn  bao  gồm  hai  vấn  đề,  đó  là  “cứng  hóa”  và  “ổn  định”.  “Ổn định” được hiểu là để xử lý  ô nhiễm, bằng việc cố định các  chất gây hại trong hỗn hợp bùn  cứng hóa cũng như biến đổi các  chất gây hại này sang các chất ít  gây hại hơn, có độ hòa tan thấp  hơn.  “Cứng  hóa” là  sự  cải  thiện  tính chất vật lý của bùn, các tính  chất vật lý này bao gồm cường độ  nén, giới hạn chảy, giới hạn dẻo,  độ sệt cũng như tăng khả năng  chống  thấm.  Mục  đích  của  việc  trộn hỗn hợp vật liệu kết dính vào  bùn nhằm làm cải thiện cường độ,  tính thấm và sức bền bằng cách  giảm hệ số rỗng và gắn các hạt  đất bùn với nhau. Khi trộn vật liệu  kết dính với bùn có 3 phản ứng  chính xảy ra, gồm  khử nước, trao  đổi ion, phản ứng keo  hóa. Cường  độ của bùn sau khi được trộn sẽ  tăng từ từ và chủ yếu là phụ thuộc  vào phản ứng keo hóa. (2) Các  vật  liệu  kết  dính  thường  được sử dụng bao gồm xi măng  Portland, bụi lò xi măng, vôi bột,  đá vôi, tro bay, tro xỉ, thạch cao,  hỗn hợp phốt pho và nhiều sản  phẩm  thương  mại  độc  quyền  khác.  Do  sự  khác  nhau  về  tính  chất cơ lý (hàm lượng nước, giới  hạn chảy, giới hạn dẻo) cũng như  thành phần hóa học của các loại  bùn, nên cấp phối trộn cho việc  cứng  hóa  cần  được  thiết  kế  để  phù  hợp  với  tính  chất  từng  loại  nhằm đảm bảo yêu cầu kỹ thuật  cũng như giá thành. Các vật liệu  kết dính được chia làm hai loại là  vô cơ và hữu cơ. Trong thực tế áp  dụng, các vật liệu kết dính vô cơ  thường được lựa chọn hơn do giá  thành rẻ hơn nhiều so với chất kết  dính  hữu  cơ  như  nhựa  át  phan,  ure  formandehyde  và  các  chất  polyme khác. (3) Cơ chế làm cứng và cải tạo bùn  là keo tụ thông qua các phản ứng  trao đổi cation và tạo ra chất kết  dính C-S-H thông qua các phản  ứng  puzzolan  trong  môi  trường  đất bùn:   nCaO + SiO 2  + yH 2 O  →  C-S-H    (1) (4) Xi măng Portland là thành phần  chính trong bê tông được sử dụng  trong xây dựng, vì vậy xi măng là  một lựa chọn rất tốt cho quá trình  đông cứng và ổn định đối với các  loại bùn khác nhau. Cấp phối có  thành phần xi măng là phổ biến  hơn so với các chất kết dính khác.  Xi măng thường được sử dụng vì:  (1) trong quá trình hydrat hóa xi  măng làm giảm nước tự do trong  bùn, (2) giảm độ thấm do thay đổi  liên kết trong bùn, (3) bao phủ các  hạt bùn bằng lớp chống thấm, (4)  cố định hóa học các chất gây hại  trong bùn bằng giảm độ hòa tan  của chúng và (5) tạo thuận lợi cho  việc giảm độc tính của một số chất  ô nhiễm. Hỗn hợp vật liệu trộn xi  măng có thể xử lý được các chất  gây hại vô cơ cũng như hữu cơ.  Các hỗn hợp vật liệu thương mại  độc  quyền  thường  là  sản  phẩm  trộn của các chất kết dính vô cơ  hoặc hữu cơ với xi măng. Tro bay  hoặc tro xỉ thường được kết hợp  sử dụng với xi măng để kích hoạt  phản  ứng  pozzolan  của  chúng.  Bụi  lò  xi  măng  thường  được  sử  dụng vì lý do kinh tế. Vôi bột có  thể sử dụng để điều chỉnh pH hay  giảm  nước  nhờ  nhiệt  lượng  cao  tỏa  ra  trong  quá  trình  thủy  hóa.  Đá vôi dùng để điều chỉnh pH và  tăng trọng lượng hỗn hợp. Các công nghệ cứng hóa bùn (5) Các  công  nghệ  hiện  nay  thường  được  áp  dụng  để  cứng  hóa  bùn  nhằm  cải  thiện  sự  gắn  kết  của  các  hạt  đất  gồm:  công  nghệ thoát lượng nước trong bùn  và công nghệ trộn các vật liệu kết  dính vào bùn. Thoát  nước  trong  bùn  tự  nhiên để cải tạo bùn (6) Giải pháp thoát nước tự nhiên:  bùn được đào lên và vận chuyển  đến  vị  trí  cần  sử  dụng,  sau  đó  được  phơi  khô  và  thoát  nước  tự  nhiên.  Kết  quả  một  số  nghiên  cứu  với  giải  pháp  này  cho  thấy,  sau khoảng 11 tháng, hàm lượng  nước ban đầu của bùn là khoảng  115-130% giảm còn 65-75%. (7) Sử dụng các vật liệu thoát nước  kết hợp hút chân không:  phương  pháp  này  ứng  dụng  cơ  chế  hút  nước trong nền để làm tăng các  chỉ tiêu cơ lý của nền, bằng cách  cắm  các  bấc  thấm  thẳng  đứng  rồi nối với máy bơm chân không.  Kết cấu thoát nước đứng thường  đi cùng với việc gia tải nhằm thúc  đẩy quá trình thoát nước của các  loại đất yếu nhằm đẩy nhanh quá  trình cố kết. Kết cấu thoát nước  tạo ra một “con đường” để nước  thoát ra từ trong đất. Thời gian để  thoát  nước  cho  đất  có  thể  giảm  từ một vài năm xuống chỉ còn vài  tháng. Việc hút chân không giúp  cải thiện các tính chất cơ lý của  bùn hoặc đất yếu.   Trộn  vật  liệu  kết  dính  vào  bùn tự nhiên   (8) Trộn vật liệu kết dính bằng hệ  thống  bơm  khí  nén:  công  nghệ  này  đã  được  các  nhà  khoa  học  nghiên cứu năm 1998 bằng cách  trộn các vật liệu kết dính với bùn  trên đường ống bơm vận chuyển  bằng  hệ  thống  máy  nén  khí.  Phương pháp này không yêu cầu  lượng nước hỗ trợ bơm vào bùn  chảy trong đường ống, loại bỏ sự  cần thiết phải lắp đặt hệ thống xử  lý thoát nước trong khu vực san  lấp.  Tuy  nhiên,  công  nghệ  này  có chi phí cao và đòi hỏi một thời  gian dài để hỗn hợp bùn xi măng  đạt được các tính chất cơ học cần  thiết cho các công trình xây dựng  tiếp theo. (9) Trộn  vật  liệu  kết  dính  bằng  các  trạm  trộn:  vật  liệu  kết  dính  với các hàm lượng đã được tính  toán nghiên cứu trước được đưa  vào  bùn  tự  nhiên  qua  các  trạm  trộn cưỡng bức. Phương pháp này  đã được áp dụng tại nhiều công  trình trên thế giới bởi nhiều nhà  thầu thi công. Có thể dùng những  trạm trộn di động bằng cách lắp  các buồng trộn cỡ nhỏ trên các xe  tải hoặc với những công trình khối  lượng lớn có thể sử dụng các trạm  trộn cố định để trộn vật liệu kết  dính vào bùn tự nhiên. (10) Giải pháp trộn tại chỗ bùn cần  gia cố:  đây là giải pháp đáp ứng  được nhiều yêu cầu của thực tế  khi  cần  tăng  khả  năng  chịu  tải  của  những  vùng  đất  yếu,  vùng  cần san lấp. Việc xác định tỷ lệ  các thành phần chất kết dính đưa  Mô hình thi công gia cố đất bùn bằng thoát nước và hút chân không tại Nhật Bản. vào xử lý được xác định từ các thí  nghiệm  trong  phòng  thí  nghiệm  qua các thiết bị trộn nông nhằm  cải thiện được tính chất cơ lý của  khu vực cần gia cố, san lấp. Với  các loại hình thiết bị khác nhau,  vật liệu kết dính sẽ được trộn đều  trong  khối  đất  cần  gia  cố  bằng  công nghệ khô/ướt, quay/phun áp  lực, khoan/cắt... Ứng dụng tiềm năng tại Việt Nam (11) Với bờ biển dài hơn 3.200 km  cùng 49 cảng biển lớn nhỏ, kèm  theo  hệ  thống  sông,  cửa  biển  phục vụ cho tàu bè vận chuyển  hàng hóa, đặc biệt tại Đồng bằng  sông Cửu Long giao thông trên hệ  thống sông ngòi đóng vai trò quan  trọng trong phát triển kinh tế. Do  đó yêu cầu khai thông luồng lạch  cửa sông, cửa biển và cảng biển  hàng năm là rất lớn. Lượng bùn  nạo vét cần được xử lý để tránh  ô  nhiễm  môi  trường  là  một  thử  thách được đặt ra trong quá trình  khai thác các cửa sông, cửa biển  và hải cảng. Ngoài ra, trên cơ sở  kết quả của Hội nghị về phát triển  bền  vững  Đồng  bằng  sông  Cửu  Long  thích  ứng  với  biến  đổi  khí  hậu  ngày  26-27/9/2017,  Chính  phủ đã ban hành Nghị quyết số  120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về  “Phát triển bền vững Đồng bằng  sông Cửu Long thích ứng với biến  đổi khí hậu”, trong đó có nội dung  “nghiên  cứu  tạo  nguồn  vật  liệu  mới  thay  thế,  phục  vụ  san  lấp,  xây dựng (hạn chế việc lấy cát từ  lòng sông để tôn nền). Quy hoạch  và đầu tư các khu xử lý chất thải,  nước thải tập trung, hiện đại; đẩy  mạnh tái chế, tái sử dụng và sản  xuất năng lượng từ rác”. Do vậy,  tiềm  năng  áp  dụng  giải  pháp  cứng hóa bùn tại Việt Nam là rất  lớn, bởi đồng thời giải quyết được  nhiều  vấn  đề  đặt  ra:  bảo  trì  hệ  thống giao thông đường thủy, tạo  ra vật liệu mới để san nền, góp  phần  thích  ứng  với  biến  đổi  khí  hậu và xử lý môi trường. (12) Theo  hướng  này,  Viện  Thủy  công đã có một nghiên cứu thực  nghiệm về việc hóa rắn bùn nạo  vét ở tỉnh Cà Mau với mục đích:  tạo vật liệu đất hỗn hợp đáp ứng  các  yêu  cầu  (góc  ma  sát  trong  φ >10 0 ; độ kết dính C>0,1 kg/cm 2 ,  có  thể  thay  thế  được  cho  móng  cát  xây  dưới  nền  đê  theo  thiết  kế hiện hành; tạo vật liệu có thể  được bơm đi từ 500 đến 1.000 m;  giá  thành  sản  phẩm  chấp  nhận  được đối với bùn đã qua xử lý.    (13) Nhóm nghiên cứu đã thực hiện  thí nghiệm tại Hà Nội với mẫu bùn  lấy từ tỉnh Cà Mau, tro bay ở Trà  Vinh, vôi lấy tại Thái Bình và các  phụ gia hóa học. Sau thử nghiệm  trong  phòng  thí  nghiệm,  nhóm  nghiên cứu đã áp dụng tại công  trường xây dựng trong Khu công  nghiệp Khánh An, tỉnh Cà Mau.  Kết  quả  ứng  dụng  ban  đầu  tại  hiện trường cho thấy, có thể tạo  ra một loại vật liệu sử dụng bùn  nạo vét thay thế phục vụ cho việc  san lấp, xây dựng (hạn chế việc  lấy cát từ lòng sông để tôn nền);  giảm thiểu được xói lở bờ sông,  bờ biển hiện nay ở khu vực Đồng  bằng sông Cửu Long do khai thác  cát quá giới hạn; giải quyết được  chỗ đổ thải bùn nạo vét trên địa  bàn  các  tỉnh  Đồng  bằng  sông  Cửu Long hàng năm (hiện tại các  dự án nạo vét đang phải đền bù  đất cho người dân để lấy chỗ xả  bùn thải). (14) Những  kết  quả  ban  đầu  cho  thấy, phương pháp cứng hóa bùn  có thể giải quyết vấn đề nền đất  yếu,  bùn  nạo  vét  ở  Đồng  bằng  sông  Cửu  Long  hàng  năm;  các  sản phẩm hình thành này có thể  là  sẽ  là  một  nguồn  nguyên  liệu  tiềm năng trong khu vực để san  lấp và xây dựng các cơ sở hạ tầng  phục vụ phát triển kinh tế - xã hội  nói  chung,  xây  dựng  nông  thôn  mới nói riêng   (Nguồn: “Cứng hóa bùn – Giải pháp hiệu quả để xử lý nền đất yếu”, TS Ngô Anh Quân, GS.TS Nguyễn Quốc Dũng, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 9, năm 2019) Nội dung chính của văn bản trên là?

Xem chi tiết 750 lượt xem 3 năm trước