khoahoc.vietjack.com

Danh sách câu hỏi ( Có 34,062 câu hỏi trên 682 trang )

Những năm đầu của thế kỷ XX con người chưa biết trong sinh vật sống, chất nào là vật chất di truyền. Đã có nhiều nhà khoa học tham gia khám phá bí mật này. Năm 1928, Griffith sử dụng 2 dòng vi khuẩn để thăm dò về vật chất di truyền (dòng S và dòng R, đặc tính gây bệnh của 2 dòng do vật chất di truyền chi phối). Ông tiến hành thí nghiệm được mô tả ở Hình 6.                                                                                                             Hình 6     Đến năm 1940, người ta nghi ngờ vật chất di truyền là 1 trong 3 chất: protein, DNA, RNA. Ba nhà khoa học Avery, MacLeod và McCarthy tiến hành thực nghiệm tiếp nối của thực nghiệm trên, kết quả thể hiện trong bảng sau:   Mẫu 1 Mẫu 2 Mẫu 3 Mẫu 4 Thành phần 1 Dịch chiết từ vi khuẩn S đã chết Dịch chiết từ vi khuẩn S đã chết Dịch chiết từ vi khuẩn S đã chết Dịch chiết từ vi khuẩn S đã chết Thành phần 2 Chủng R sống Chủng R sống Chủng R sống Chủng R sống Thành phần 3 Nước cất Enzyme phân giải protein Enzyme phân giải RNA Enzyme phân giải DNA Kết quả Cấy vào chuột, chuột bị bệnh và chết Cấy vào chuột, chuột bị bệnh và chết Cấy vào chuột, chuột bị bệnh và chết Cấy vào chuột, chuột sống     Căn cứ trên các kết quả thực nghiệm của Griffith, Avery và các cộng sự có bao nhiêu phát biểu dưới đây đúng?     I. Chủng vi khuẩn R gây bệnh và làm chuột chết trong khi chủng S không làm chuột chết.     II. Kết quả thực nghiệm của Griffith cho thấy một dạng vật chất di truyền nào đó có nguồn gốc từ vi khuẩn S bị chết và xâm nhập vào vi khuẩn R sống khiến chúng R có đặc tính của chủng S.     III. Thực nghiệm của Avery chỉ ra rằng vật chất di truyền là DNA, phân tử này bị phân giải bởi enzyme phân giải DNA.     IV. Enzyme phân giải RNA sử dụng trong thực nghiệm của Avery có bản chất là protein và có độc tính đối với sự sống của chuột.

Xem chi tiết 448 lượt xem 3 tháng trước

Ở sinh vật nhân thực, quá trình tổng hợp mạch mới ở vị trí đầu mút của phân tử DNA xảy ra hiện tượng đặc biệt gọi là sự cố đầu mút. Do đặc điểm enzyme DNA polymerase cần phải có đoạn mồi mới có thể kéo dài mạch mới. Tuy nhiên ở vị trí đầu mút DNA, sau khi loại bỏ đoạn RNA mồi do không có đầu 3’OH nên DNA polymerase không thể tổng hợp đoạn nucleotide thay thế, kết quả phân tử DNA ngắn dần qua các lần tái bản.      Khi nói về quá trình tái bản DNA với thông tin về sự cố đầu mút, trong những nhận định dưới đây có bao nhiêu nhận định đúng?      I. Trong quá trình nhân đôi DNA ngoài các loại enzyme tháo xoắn và enzyme DNA polymerase thì cần phải có enzyme RNA polymerase và ligase.      II. Trong quá trình nhân đôi DNA cần sử dụng 4 loại nucleotide làm nguyên liệu.      III. Các nhà nghiên cứu thấy rằng, khi DNA của các sinh vật nhân thực ngắn dần đến một giá trị nhất định thì tế bào sẽ đi vào con đường tự chết.      IV. Đây là cơ chế tự nhiên giúp ngăn chặn sự phát triển của các tế bào bất thường và có hại cho sức khỏe.

Xem chi tiết 237 lượt xem 3 tháng trước