Danh sách câu hỏi ( Có 32,863 câu hỏi trên 658 trang )

Ở một loài thực vật, xét ba gene (mỗi gene gồm hai allele trội lặn hoàn toàn) quy định ba tính trạng khác nhau: màu sắc hoa, hình dạng lá và độ cứng thân; nằm trên 3 locut gene trong 6 locut gene (A, B, C, D, E và F) ở 2 nhiễm sắc thể (NST) khác nhau được mô tả như Hình 5. Người ta tiến hành 6 phép lai khác nhau liên quan đến ba tính trạng đang xét để xác định vị trí của gene trên NST và thu được kết quả như Bảng 2. Bảng 2   Phép lai (Px): Thế hệ con (F1-x) P₁: Lá tròn, hoa trắng × Lá bầu dục, hoa trắng Thu được 100% lá bầu dục, hoa trắng P₂: Hoa đỏ, thân mềm × Hoa trắng, thân mềm Thu được cả hoa đỏ và hoa trắng, thân mềm P₃: Thân mềm, lá tròn × Thân cứng, lá tròn Thu được 100% thân mềm, lá tròn P₄: Hoa đỏ, lá bầu dục tự thụ phấn Thu được hoa đỏ, lá bầu dục chiếm 66% P₅: Hoa đỏ, thân mềm × Hoa đỏ, thân mềm Thu được hoa trắng, thân mềm chiếm 18,75% P₆: Lá bầu dục, thân mềm × Lá bầu dục, thân mềm Thu được tỷ lệ kiểu hình khác nhau ở hai giới Biết rằng không có đột biến xảy ra và khoảng cách giữa các gene trên NST có đơn vị là centimorgan (cM), nếu có hoán vị gene thì tần số hoán vị ở hai giới là như nhau.

Xem chi tiết 260 lượt xem 1 tháng trước

PHẦN II. Câu trắc nghiệm đúng sai. Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 6. Trong mỗi ý a), b), c), d) ở mỗi câu, thí sinh chọn đúng hoặc sai. Loài nhuyễn thể Thysanoessa inermis đã thích nghi với môi trường nước biển lạnh (4oC). Loài này có một vài gene HSP mã hóa protein chống sốc nhiệt (HSP). Những protein này giúp ngăn cản sự biến tính protein hoặc giúp tái gập cuộn protein sai hỏng về cấu trúc ban đầu của chúng. Để kiểm tra vai trò cụ thể của các gene này, các nhà khoa học tiến hành đo mức độ biểu hiện các gene này thông qua đo hàm lượng trung bình của 3 loại mRNA I, II, III được phiên mã từ các gene HSP khi nhuyễn thể trải qua sốc nhiệt. Thí nghiệm diễn ra như sau: -  Lô thí nghiệm: Một nhóm T.inermis đươc duy trì trong bể chứa nước biển 4oC và sau đó đưa vào bể chứa nước biển 10oC trong khoảng 3 giờ. Sau đó, chúng được đưa trở lại vào bể chứa nước biển 4oC để hồi phục trong thời gian 6 giờ. Kết quả đo nồng độ mRNA được biểu diễn trong hình bên. -  Lô đối chứng: Một nhóm T.inermis được đưa từ bể chứa nước biển 4oC đến bể chứa nước biển 4oC khác trong khoảng 3 giờ rồi được đem trở lại bể ban đầu. Ở lô đối chứng, không nhận thấy sự phiên mã của bất kì gene HSP nào trong suốt thời gian thí nghiệm (dữ liệu không thể hiện). Từ kết quả nghiên cứu, mỗi phát biểu sau là đúng hay sai?

Xem chi tiết 178 lượt xem 1 tháng trước

Ở một loài thực vật, A quy định thân cao, a quy định thân thấp; B quy định hoa đỏ, b quy định hoa trắng. Thực hiện 2 phép lai, thu được kết quả như sau: Phép lai 1: Lấy hạt phấn của cây thân thấp, hoa trắng thụ phấn cho cây thân cao, hoa đỏ (P), thu được F1 có 100% cây thân cao, hoa đỏ. Phép lai 2: Lấy hạt phấn của cây thân cao, hoa đỏ thụ phấn cho cây thân thấp, hoa trắng (P), thu được F1 có 100% cây thân cao, hoa trắng. Biết rằng không xảy ra đột biến. Theo lí thuyết, phát biểu nào sau đây đúng? I. Nếu cho F1 của phép lai 1 giao phấn ngẫu nhiên sẽ thu được đời con có tỉ lệ kiểu hình là 9 cây thân cao, hoa đỏ: 3 cây thân cao, hoa trắng: 3 cây thân thấp, hoa đỏ: 1 cây thân thấp, hoa trắng. II. Nếu cho F1 của phép lai 2 giao phấn ngẫu nhiên sẽ thu được đời con có 25% số cây thân thấp, hoa trắng. III. Nếu lấy hạt phấn của cây F1 của phép lai 1 thụ phấn cho cây F1 của phép lai 2 sẽ thu được đời con có tỷ lệ 3 cây thân cao, hoa đỏ : 1 cây thân thấp, hoa trắng. IV. Nếu lấy hạt phấn của cây F1 của phép lai 2 thụ phấn cho cây F1 của phép lai 1 sẽ thu được đời con có cây thân cao, hoa đỏ chiếm 75%.

Xem chi tiết 137 lượt xem 1 tháng trước

Ở nhiều loài động vật có vú, hormone leptin được tạo ra bởi các tế bào mỡ và tiết vào máu, khi bám vào các thụ thể ở tế bào thần kinh sẽ gây ra cảm giác chán ăn; do đó hormone này đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa hành vi ăn uống. Những đột biến liên quan đến việc mất khả năng sản xuất leptin, hoặc mất khả năng sản xuất thụ thể leptin đều gây ra những rối loạn trong hành vi ăn uống và dẫn đến chứng béo phì. Một nghiên cứu như vậy đã được thực hiện ở 2 dòng chuột bạch béo phì thuần chủng trưởng thành mang các đột biến khác nhau trong phòng thí nghiệm. Những con chuột của mỗi dòng này đều có hành vi tham ăn và kích thước cơ thể béo hơn rất nhiều so với chuột dòng bình thường (dòng dại). - Ở thí nghiệm thứ nhất, các nhà khoa học thực hiện phép lai giữa các dòng béo phì và dòng bình thường, sau đó cho F1 giao phối với nhau thu được F2. Kết quả tóm tắt như sau:   Phép lai P F1 F2 1 Dòng 1 x dòng dại 100% bình thường 75% bình thường : 25% béo phì 2 Dòng 2 x dòng dại 100% bình thường 75% bình thường : 25% béo phì 3 Dòng 1 x dòng 2 100% bình thường   -  Ở thí nghiệm thứ hai, các nhà khoa học đã sử dụng công nghệ cấy tế bào gốc của mỗi dòng sang dòng còn lại sau đó theo dõi cân nặng sau một thời gian; họ nhận thấy rằng cấy tế bào gốc chuột dòng 1 vào cơ thể chuột dòng 2 thì cá thể nhận tế bào gốc đã kiểm soát được khối lượng (không bị tăng cân); còn ở thí nghiệm ngược lại thì cá thể nhận tế bào gốc vẫn tiếp tục tăng cân hơn 30% khối lượng cơ thể sau một thời gian. Giả sử các con chuột trong hai thí nghiệm được nuôi với điều kiện dinh dưỡng như nhau và không bị tác động bởi các nhân tố khác Từ kết quả nghiên cứu, theo lý thuyết có bao nhiêu phát biểu sau đây đúng? I. Hành vi ăn uống điều độ ở chuột bạch do ít nhất 2 gene tương tác bổ sung quy định; các đột biến lặn gây mất chức năng ở ít nhất 1 trong 2 gene này sẽ dẫn đến chứng tham ăn và béo phì. II.   Dòng 1 nhiều khả năng bị đột biến dẫn đến mất khả năng sản xuất leptin. III.   Nếu đem tế bào gốc của dòng dại truyền cho dòng 1 hoặc dòng 2 chuột nhận được đều không tăng thêm khối lượng cơ thể. IV.   F2 của phép lai thứ 3 được dự đoán có hơn 50% cá thể bình thường.

Xem chi tiết 210 lượt xem 1 tháng trước

Người ta tiến hành hai thí nghiệm để tổng hợp DNA như sau: Thí nghiệm 1: Trộn DNA polimerase vào dung dịch chứa DNA khuôn mạch thẳng, sợi kép, các RNA mồi bắt cặp bổ sung với trình tự DNA khuôn ở đầu 3' của mỗi mạch đơn và 4 loại nucleotid A, T, G, C. Kết quả thu được các DNA sợi kép có kích thước phân tử khác nhau - Thí nghiệm 2: Trộn DNA polimerase vào dung dịch chứa DNA khuôn mạch vòng, sợi kép, các RNA mồi bắt cặp bổ sung với trình tự DNA khuôn và 4 loại nucleotid A, T, G, C. Kết quả thu được các DNA sợi kép có kích thước phân tử giống nhau Biết rằng, các thí nghiệm có đủ các điều kiện cần thiết cho quá trình tái bản DNA diễn ra nhiều lần. Trong các giải thích về thí nghiệm sau đây theo lí thuyết, phát biểu nào sau đây đúng? I.   Ở thí nghiệm thứ nhất, trong lần tái bản thứ nhất, RNA được bắt đầu ở đầu 5' của mỗi sợi mới tổng hợp do RNA mồi liên kết bổ sung với đầu 3' của mỗi sợi đơn DNA khuôn mạch thẳng. II.    Trong lần tái bản thứ 2 ở thí nghiệm thứ nhất, RNA mồi ở đầu 5' không sử dụng làm khuôn để tổng hợp sợi mới nên kích thước DNA mới tổng hợp ngắn hơn sợi đơn DNA làm khuôn ban đầu. Vì vậy, tạo nên DNA có kích thước ngắn hơn DNA làm khuôn ban đầu. III.   Ở thí nghiệm 2, DNA polimerase vừa có hoạt tính kéo dài mạch (DNA) theo chiều 5'-3' và vừa có hoạt tính loại bỏ mồi theo chiều 5'-3'. IV.   Ở thí nghiệm 2, do cấu trúc DNA mạch vòng nên DNA polymerase đang tổng hợp sợi mới sẽ gặp đầu 5' của RNA mồi (bổ sung với sợi khuôn) nên có thể loại bỏ RNA mồi và tổng hợp DNA thay thế. Vì vậy tạo DNA mạch vòng gồm các sợi mới tổng hợp và sợi làm khuôn có kích thước giống nhau.

Xem chi tiết 192 lượt xem 1 tháng trước