Danh sách câu hỏi ( Có 1,688 câu hỏi trên 34 trang )

(5,0 điểm).  Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích đặc sắc nội dung và nghệ thuật của bài thơ sau: CHUYỆN CÁNH ĐỒNG (Nguyễn Văn Song) (1) Nghe đồng kể chuyện cỏ hoa Xa xanh trải tới bao la cuối trời Có bông sen trắng không lời Thản nhiên trắng đến cạn đời còn thơm   (2) Nghe đồng kể chuyện rạ rơm1 Ngàn năm vương nợ hạt cơm quê mình Hoá thành ngọn khói ân tình Trả tro về đất khai sinh lặng thầm   (3) Nghe đồng kể dấu chân trần Vẹt mòn đọng váng bùn2 ngâm bốn mùa Móng bầm3 bám ruộng phèn chua Chân in thêm dấu lúa vừa thêm bông (4) Nghe đồng kể chuyện bão giông Mồ hôi đánh cược mênh mông lũ tràn Mỗi lần cơn bão vừa tan Lại nghe đất cựa muôn ngàn mầm cây   (5) Lặng im nghe chuyện đất này Nắm xương dưới cỏ kể ngày rất xa Buồn vui từ thuở ông bà Còn in sắc biếc quê nhà đồng chiêm 4 ... (Tạp chí Văn nghệ Quân đội – số 1048, tháng 11/2024, tr 99)       Chú thích: - Nguyễn Văn Song: sinh năm 1974 tại Đông Anh, Hà Nội, là nhà thơ, giáo viên THPT tại Hưng Yên, nổi tiếng với các tập thơ lục bát sâu lắng về làng quê và mẹ như “Đi từ phía cổng làng”, “Mẹ và sen” với lối viết giản dị, mộc mạc, chân thành. Các hình tượng thơ gắn liền với kỷ niệm làng quê, bờ ao, gốc rạ, cổng làng.... Thơ ông đã đoạt giải B (không có giải A) cuộc thi thơ Báo Văn Nghệ 2019 - 2020. 1 Rạ rơm: rạ là phần thân cây lúa còn lại trên ruộng sau khi đã gặt lúa xong; rơm là phần thân cây lúa đã được phơi khô sau khi tuốt hạt lúa. 2 Váng bùn: Lớp bùn mỏng, nhẹ nổi lên mặt nước (ao, ruộng...)  3 Móng bầm: Móng thâm tím, gợi sự đau đớn, vất vả, nhọc nhằn của con người trong lao động. 4 Đồng chiêm: Là vùng ruộng thấp, thường bị ngập nước, chủ yếu trồng lúa theo vụ chiêm (vụ lúa gieo mùa đông, gặt vào đầu mùa hạ)

Xem chi tiết 1.4 K lượt xem 2 tuần trước

(5,0 điểm) Trong bài viết Vươn tới cái đẹp và cái hoàn thiện, tác giả Vũ Cao cho rằng: Một tác phẩm hay đọc xong thấy yêu đời, muốn sống và sống văn minh hơn, phong phú hơn. (Trích Nhà văn nói về tác phẩm, Hà Minh Đức biên soạn, NXB Văn học, 1998, tr.367) Từ việc phân tích đoạn trích truyện ngắn Bẫy cò của Tạ Duy Anh(1), em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên. Năm ấy tôi quãng mười hai tuổi, còn bé Vin thì lên bảy. Vào dịp hè chúng tôi được tự do chạy nhảy. Bé Vin tết tóc thành hai dải, thắt nơ xanh, bám theo tôi như chiếc bóng. Chúng tôi thường lần dọc bờ đê tìm chọi gà hoặc lăn ra bãi cỏ nào đó đố nhau đếm từng đàn chim bay qua. Đủ các loại chim, ban ngày chúng lặn lội kiếm ăn và tối đến lại rủ nhau tụ hội trên những búi tre xanh tốt phía rìa làng. Một hôm tôi rủ bé Vin: - Chúng mình bẫy cò đi. Bé Vin tròn mắt: - Anh biết làm bẫy không? - Biết chứ! Ông Kiểm thọt chả dạy anh đấy thôi. Bé Vin nhìn tôi từ đầu đến chân ra chiều phục lắm. Có một ông anh biết làm bẫy cò cơ mà. Khi tôi bắt tay vào việc, bé Vin luôn chầu chực để thực hiện những điều tôi sai bảo. Nó có vẻ còn háo hức hơn tôi, miệng liến láu: - Anh Tú phải bắt sống cho em một con nhé, em sẽ dạy nó trông nhà. Anh Tú “ừ” đi! - Nhất định phải bắt sống chứ - tôi đáp, bắt chước giọng ông Kiểm thọt. - Người ta bảo có cò vàng cơ. Cò vàng đẻ trứng bằng vàng ấy, anh Tú biết không? - Nhất định phải bắt được cò vàng… - Tôi chiều lòng bé Vin. (Lược một đoạn: Sau ba ngày chuẩn bị, hai anh em hoàn thành chiếc bẫy và kiên nhẫn chờ đợi giữa cánh đồng đầy cò trắng. Tuy nhiên, lũ cò vốn tinh ranh nhanh chóng phát hiện nguy hiểm và tránh xa. Đang lúc định bỏ cuộc, hai mẹ con Cò Bợ(2), bất ngờ sà xuống. Thiếu cảnh giác, cò con lao vào mồi và mắc bẫy.) - Sập bẫy rồi! Tôi nắm tay bé Vin chạy thục mạng về phía con vật đang vỗ cánh bành bạch. Cả đàn cò trắng bay vùng lên, kêu náo loạn. Cò Bợ mẹ bay thấp hơn, đau đớn gào to: “Cứu con tôi với!...”. Trong khi đó Cò Bợ con bị sợi cước thít vào cổ giẫy giụa tuyệt vọng. Thấy chúng tôi, nó vùng bay lên và ngay lập tức lại rơi bịch xuống, toàn thân bê bết bùn. Nhìn cảnh đó bé Vin bỗng tái mặt, đầu gối díu vào nhau. Tôi đành vào tháo bẫy một mình. Tiếng con cò mẹ càng gào thảm thiết. Cò Bợ con chừng đã mệt, hai cánh áp xuống đất, mắt lóe lên như hai giọt nước, sợ run cầm cập. Đến lượt chân tôi muốn khuỵu xuống. Tôi thấy rõ tiếng van xin của Bợ con: “Tôi van cậu! Cậu cũng là trẻ con, cũng có lúc dại dột. Tôi xin cậu”. Chắc nó đang nghĩ đến mẹ nó. Đêm nay mẹ nó sẽ khóc hết nước mắt. Rồi chỉ vài hôm nữa thế nào cũng thấy xác một con Cò Bợ mẹ chết ủ rũ vì mất con. Tôi không kịp nghĩ gì cả, ngồi thụp xuống, gỡ nút thòng lọng rồi ôm con vật tung bổng lên trời. Thoạt đầu Bợ con loạng quạng bay như diều đứt dây. Lát sau nó lấy lại được tư thế và hai mẹ con nó dìu nhau bay về phía làng. Cả tôi và bé Vin đều ngửa cổ nhìn theo cho đến khi đàn cò chỉ còn lại như những chấm đen in lên hoàng hôn đỏ rực. Bé Vin, mặt vẫn tái mét, im lặng bước theo tôi. Bỗng nó ngồi thụp xuống, khóc òa lên. Tôi phải dỗ nó: - Vin giận anh à? Nó nói trong tiếng nức nở: - Con cò… sẽ gẫy cổ mất… Thế nào mẹ nó cũng đánh nó vì tội dại dột… Hấc! Hấc… Tôi phải cam đoan với bé Vin con cò chỉ hơi đau, nó mới chịu nín. Nó bám tay áo tôi, vừa đi vừa quệt nước mắt. Từ hôm sau, cứ chiều đến, chúng tôi tìm một bãi cò nằm chờ từng đàn chim trở về. Thỉnh thoảng bé Vin lại đứng ngẩn người, lo lắng nhìn hút theo một con chim lạc bầy, vừa chấp chới bay vừa kêu thảm thiết. (Trích Bẫy cò, Tạ Duy Anh, Báo Văn học & Tuổi trẻ, số tháng 5, năm 2017) -------------------------------------------- (1) Tạ Duy Anh sinh năm 1959, quê ở Chương Mỹ, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), là cây bút tiêu biểu của thời kì đổi mới. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1993, hiện là biên tập viên tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Ông nổi bật với nhiều tác phẩm giàu tính nhân văn như Bức tranh của em gái tôi (truyện ngắn), Quả trứng vàng (truyện ngắn), Bước qua lời nguyền (tiểu thuyết)… góp phần khẳng định vị trí riêng của Tạ Duy Anh trong văn học đương đại (2) Cò Bợ: là loại cò cổ và ngực màu nâu thẫm, thường có dáng ủ rũ

Xem chi tiết 154 lượt xem 2 tuần trước

(5.0 điểm)    Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích nội dung chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích truyện “Bông hoa nước” của Nguyễn Quang Thiều.           Chuyên chìm vào giấc ngủ. [...] Một cơn mơ dịu dàng và náo nức đến với nó. Bà nó hiện về trong khu vườn nhà xào xạc tiếng lá. Bà mỉm cười với nó và thầm thì: “Có một loài hoa kỳ diệu nở trong lòng nước. Ai hái được bông hoa đó sẽ trở thành người đẹp nhất và thông minh nhất". Chuyên níu áo bà hỏi: "Ai sẽ hái được hở bà?". Bà nói: "Người nào dũng cảm vì người khác sẽ hái được". Nó hỏi: "Thế cháu có là người dũng cảm không?". Bà nó gật đầu: "Bà tin cháu là người dũng cảm". Trong giấc mơ, Chuyên nhìn thấy từ dưới lòng nước của đầm làng tỏa sáng. Đấy là ánh sáng của bông hoa nước. Nó chạy đến bờ đầm và từ từ lội xuống nước. Càng đến giữa bờ đầm ánh sáng từ dưới lòng nước càng tỏa lên rực rỡ. Chuyên sung sướng. Nó đưa tay xuống nước về phía ánh sáng phát ra. Bỗng từ trên bờ tiếng mẹ nó gọi nó gấp gáp: "Chuyên ơi! Chuyên ơi! Chuyên ơi!".           (Lượt bớt đoạn: Chuyên giật mình tỉnh dậy. Mẹ em đang đau dữ dội và sắp sinh em bé. Trong đêm mưa bão, mẹ không thể đến trạm xá, đành nhờ Chuyên đi gọi bà đỡ. Nghe vậy, Chuyên vô cùng hoảng sợ. Em chỉ là một cô bé chín tuổi, lại phải đi một mình giữa đêm tối, gió mưa dữ dội. Nhà lại xa làng, xung quanh không có ai giúp đỡ. Chuyên vừa sợ hãi vừa lo lắng, bật khóc và do dự không dám đi…)       - Mẹ chết mất con ơi - Mẹ kêu lên và vật văn trên giường - Con đi đi, đi gọi bà Quy... Nghe đến đó, Chuyên òa khóc. Nó khóc vì sợ hãi, vì lo sợ mẹ nó và vì bất lực. - Con đi đi. Đừng sợ - Mẹ Chuyên gượng ngồi dậy - Con mặc áo mưa vào. Nào đi đi, con. Chuyên vẫn ngồi bất động và nức nở. Cơn đau sinh nở làm mặt mẹ bạc trắng và méo mó. Tóc mẹ rũ rượi. - Mẹ sắp sinh bé. Nếu không có bà đỡ em con... em con... chết mất, Chuyên ơi!    Chuyên nín. Nó bàng hoàng nhìn mẹ. Bao tháng ngày rồi, nó mong đợi ngày em nó ra đời. Nó ao ước một đứa em. "Em con... chết mất". Câu nói đó của mẹ làm nó chợt trở nên cứng rắn            - Con sẽ đi. Con đi ngay.    Chuyên nói và hấp tấp đứng dậy. Nó khoác áo mưa và đội chiếc mũ lá của bố nó.       - Hãy giúp mẹ... dừng sợ... con nhé!   Chuyên bậm môi, gật đầu. Nó bước ra cửa. Gió ùa vào như xô ngã nó. Ngọn đèn phụt tắt        -Mẹ!    Chuyên kêu lên. Nó nhắm mắt lại. Chỉ chốc lát, mưa đã hắt ướt đẫm chiếc áo mưa của nó. - Đi đi con - Giọng mẹ nó từ bóng tối vọng ra - Đừng sợ. Hãy vì em bé của con.    Nó bước ào ra sân. Gió như nhấc bổng nó lên. Cây cối gào thét trong vườn. Khi bước lên trên mặt đê, nó như ngạt đi vì gió. Nếu không có chớp, nó không thể nhìn thấy mặt đê. Cả thế gian mênh mông tối đen và mưa gió gào rú như chỉ có một mình nó. Một mình đứa bé gái chín tuổi nhỏ nhoi, bấm chân, chuệch choạng bước. Đã mấy lần nó định quay ngoặt chạy và về nhà. Những lúc đó, hình ảnh mẹ nó và gương mặt nhợt nhạt, méo mó giọng nói hổn hển "Em con... chết mất" lại hiện về.    Chuyên đã đến trạm xá lúc nào mà nó cũng không biết. Khi chớp lóe lên thì nó nhận ra trạm xá xã đã ở trước mặt. Nó sướng đến lạnh người. Nó quáng quàng chạy vào sân trạm xá. Khu nhà chìm trong mưa. [...] Đến gần trưa thì bố nó về. Khi bố vừa xuất hiện ở cửa thì nó kêu lên "Bố! Mẹ sinh em bé rồi" và ngất đi. Nó đã quá mệt mỏi và sợ hãi.    Và giấc mơ đêm qua lại trở về với nó. Nó từ từ đưa tay vào lòng nước. Nơi đang tỏa ra một thứ ánh sáng diệu kỳ. Những ngón tay bé bỏng của nó chạm vào bông hoa nước. Nó ngắt bông hoa và bước đi. Nắng ngập tràn quanh nó. Và cứ sau mỗi bước đi, nó lại đẹp thêm lộng lẫy. Nó đã trở thành người đẹp nhất và thông minh nhất.                            (Nguyễn Quang Thiều, Tuyển tập, NXB Văn học, 1917) Chú thích: Nguyễn Quang Thiều là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, nổi bật với phong cách trữ tình, giàu chất thơ và triết lý sâu sắc. Truyện ngắn Bông hoa nước là một trong những tác phẩm ấn tượng của ông, kể về hành trình nội tâm của một con người giữa cuộc đời đầy biến động.

Xem chi tiết 1 K lượt xem 2 tuần trước

Viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích nhân vật Đức trong truyện ngắn dưới đây: THẰNG GÙ   Làng tôi có một đứa trẻ bị tật nguyền. Nó tên là Đức, một cái tên hẳn hoi nhưng tất cả bọn trẻ chúng tôi đều gọi tên nó là thằng Gù. Lên mười tuổi mà thằng Gù vẫn chưa đi học, chẳng hiểu do mặc cảm hay do điều gì khác. Nhiều hôm từ trong phòng học (phòng học của chúng tôi ở tầng hai), tôi thấy thằng Gù chăn trâu ngoài cánh đồng. Cái hình người gấp khúc, chỗ đỉnh gù cao hơn chỏm đầu khiến tôi nhận ngay ra nó. Nó và con trâu giống như hai chấm đen nổi lên giữa màu xanh rười rượi của cánh đồng [...]. Thằng Gù lảng tránh tất cả các trò chơi của chúng tôi. Những tiếng trêu chọc: “Ê, con lạc đà châu Phi”, “Tránh ra chúng mày ơi cho bà còng đi chợ” làm nó càng cúi gập người xuống, mắt dí vào bụng. Nó im lặng len lét vòng qua chỗ chúng tôi đang chơi đùa. Có lần, nó bỏ chạy...  [...] Một buổi chiều mưa vừa dứt, nắng mới tưng tửng hé sáng vạt đồi, chúng tôi chợt nghe tiếng đàn ghi ta vang lên từ chiếc loa nén nào đó. Có người hát rong về làng.[…]. Chúng tôi ùa ra xem. Người lớn, trẻ con, vòng trong, vòng ngoài lố nhố vây quanh đoàn người hát rong. Tôi gọi là đoàn vì họ có tới ba người. Hai đứa trẻ và một người đàn ông mang kính đen, đeo cây đàn ghi ta trước bụng. Trong hai đứa trẻ, có một đứa giống hệt thằng bé tật nguyền của làng tôi. Nó cũng bị gù. Nó biểu diễn nhiều trò. Buồn cười nhất là trò trồng cây chuối. Không phải nó trồng cây chuối bằng tay và đầu như lũ trẻ chúng tôi thường làm. Nó trồng bằng cái lưng gù. Đoạn gấp giữa đỉnh gù và đầu thành cái đế đỡ đôi chân khẳng khiu của nó dựng đứng. Mỗi lần nó trồng cây chuối mọi người lại cười ồ. Có người hứng chí vỗ tay hét: “Trồng lại đi, thế thế ...”.[…]. Đã thế tiếng hô “Làm lại đi” vẫn thúc giục không ngớt. Giữa lúc đó thì nó chen chân vào. Thằng Gù của làng tôi. Tiếng cười rộ: “À, hai thằng gù. Đức ơi, mày trồng thêm cây chuối nữa đi”. Tôi nín thở nhìn theo nó.[…]. Nó từ từ đi đến bên “cây chuối” người. Đỡ thằng bé gù đứng thẳng lại, nó bỗng quắc mắt nhìn vòng người vây quanh. Bất ngờ nó thét: - Thế mà cười được à? Đồ độc ác! Sau tiếng thét của nó, đám đông bừng tỉnh. Tiếng cười tắt lặng. Người đàn ông đang gảy đàn cũng dừng tay sững sờ. Tất cả các cặp mắt dồn về nó. Khuôn mặt thằng Đức đẫm lệ. Nó móc túi áo ngực lôi ra những đồng tiền được gấp cẩn thận đặt vào lòng mũ của người hát rong. Đôi vai nó rung rung thổn thức. Cái vòng người đang vây quanh tự nhiên gãy vỡ. Đứt từng quãng. Không ai bảo ai, từng người một lặng lẽ tan dần.[…]. Theo Hạ Huyền (Con gái người lính đảo, Truyện đọc thêm môn Giáo dục công dân và môn Ngữ văn ở THCS, NXB Giáo dục, 2003) Chú thích: - Nhà văn Hạ Huyền tên thật là Đỗ Văn Tiến (1957-2009). Một người chuyên viết truyện thiếu nhi, một nhà văn, một nhà báo xuất sắc. Ông nguyên là trưởng cơ quan đại diện Tạp chí Văn Hiến Việt Nam tại Thanh Hóa  đã có nhiều đóng góp trong văn học thiếu nhi cũng như báo chí Việt Nam. - Văn chương của Hạ Huyền thể hiện sự trân trọng những vẻ đẹp bình dị, tinh tế của làng quê và nhắn nhủ con người hướng tới cái đẹp, cái thiện.

Xem chi tiết 242 lượt xem 2 tuần trước

 (5,0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá chủ đề và đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích trong bài thơ sau: TỔ QUỐC VÀO XUÂN      -Bùi Minh Huệ- […] Tổ quốc là nhà, có bếp lửa ngày xuân Môi mẹ ấm trầu cay, vai áo cha sờn bạc Giò chả, bánh chưng, nỗi ước ao một thời khó nhọc Rộn rã cối chày náo nức những làng quê   Tổ quốc là nơi những người lính không về Đem tuổi xuân hòa vào cùng cây cỏ Lời hẹn ước thề nguyền, lứa đôi dang dở Cho hôm nay xuân thắm nở đầyhoa   Đường rộng mở, thế giới thành bao la Xin đừng quên Tổ quốc nhiều gian khó Dẫu giá lạnh, đào mai rồi sẽ nở Tổ quốc vào xuân, nối tiếp những mùa xuân (Theo Văn nghệ Hà Tĩnh, tháng 3/2020) Chú thích: Bùi Minh Huệ sinh năm 1964, là nữ nhà thơ quê ở Hà Tĩnh, Hội viên chuyên ngành Thơ, Hội liên hiệp VHNT Hà Tĩnh, nguyên Phó Tổng biên tập Báo Hà Tĩnh. Viết về tổ quốc, đảng, nhân dân…bằng tất cả sự kính yêu, ngưỡng vọng, thơ Bùi Minh Huệ hấp dẫn người đọc bởi cảm xúc chân thành, ngôn ngữ giản dị, hình ảnh cụ thể, gần gũi với cuộc sống thường ngày. Các tác phẩm đã xuất bản: Mưa đầu hạ (Thơ,Hội LHVHNT Hà Tĩnh, 1994), Cho em(Thơ,Hội LHVHNT Hà Tĩnh,1996), Chiều biển động(Thơ,NXBThanh niên, 2003), Trái tim Đồng Lộc (Ký, Hội VHNT Hà Tĩnh, 2005)… “Tổ quốc vào Xuân” là bài thơ tiêu biểu cho lối viết của tác giả, được sáng tác vào mùa xuân năm 2017. Bài thơ gồm có năm khổ, đoạn trích là ba khổ cuối.

Xem chi tiết 0.9 K lượt xem 2 tuần trước