Danh sách câu hỏi ( Có 60,882 câu hỏi trên 1,218 trang )

Hình 5 minh họa sự khuếch đại sinh học của PCB (Polychlorinated Biphenyls) trong một lưới thức ăn ở hệ sinh thái hồ nước ngọt. Những chất này khó bị phân hủy trong môi trường và có khả năng tích lũy sinh học và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người cũng như hệ sinh thái. Mũi tên cho thấy dòng năng lượng trong lưới thức ăn.   Hình 5 Chú thích: ppm (Parts per million) là đơn vị đo lường nồng độ rất nhỏ của một chất nào đó trong hỗn hợp, thường được dùng để đo mức độ ô nhiễm trong môi trường (1 ppm = 1/1.000.000). Cho các nhận định sau: 1. Thực vật phù du hấp thụ PCB từ nước, động vật phù du ăn chúng, cá nhỏ sử dụng thực vật và động vật phù du làm thức ăn, cá hồi hồ ăn cá nhỏ, chim hải âu ăn cá. 2. Nồng độ PCB trong trứng chim hải âu cao hơn thực vật phù du hơn 4000 lần. 3. Các bậc dinh dưỡng khác nhau trong chuỗi thức ăn cho thấy sự tích lũy PCB từ mức thấp đến mức cao hơn. 4. Sự tích lũy PCB tỉ lệ nghịch với các bậc dinh dưỡng trong lưới thức ăn. 5. Con người chắc chắn bị ảnh hưởng bởi tác động của PCB khi ăn thực phẩm nhiễm chất này, đặc biệt là cá và hải sản từ vùng ô nhiễm. Hãy viết liền các số tương ứng với các nhận định đúng theo thứ tự từ nhỏ đến lớn.

Xem chi tiết 1 K lượt xem 7 tháng trước

Vườn quốc gia Pù Mát (tỉnh Nghệ An) là một trong những khu vực quan trọng nhất của Việt Nam trong việc bảo tồn quần thể voi châu Á (Elephas maximus). Theo các khảo sát từ năm 2018–2019, khu vực này có khoảng 13–14 cá thể voi hoang dã, chia thành 3 nhóm chính ở các huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương. Mặc dù có sự hiện diện của voi, quần thể này đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cao. Hiện nay, quần thể voi ở Anh Sơn được đánh giá là quan trọng nhất vì có cả voi đực, voi cái trưởng thành và voi con, giúp duy trì khả năng sinh sản cho quần thể. Tuy nhiên, nếu không có các biện pháp bảo tồn kịp thời, số lượng voi có thể tiếp tục giảm, đe dọa nghiêm trọng đến đa dạng sinh học của khu vực. Nguyên nhân dẫn quần thể voi ở huyện Con Cuông và Tương Dương đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng có thể là do: 1. Số lượng cá thể ít và các nhóm voi bị cô lập, không thể giao phối tự nhiên. 2. Mất môi trường sống do phá rừng để làm nông nghiệp và trồng rừng thương mại. 3. Xung đột giữa voi và con người, khi voi phá hoại hoa màu của người dân. 4. Săn bắt trái phép, đe dọa đến sự tồn tại của các cá thể voi còn lại. Sắp xếp các nguyên nhân đúng theo thứ tự từ nhỏ đến lớn.

Xem chi tiết 1.6 K lượt xem 7 tháng trước

Người Amish là một nhóm tôn giáo thiểu số có nguồn gốc từ Đức và Thụy Sĩ, di cư đến Mỹ vào thế kỷ 18. Họ sống chủ yếu ở các bang Pennsylvania, Ohio, và Indiana, theo đuổi lối sống khép kín, đơn giản, không sử dụng điện, công nghệ hiện đại và duy trì truyền thống kết hôn trong cộng đồng. Do sự cô lập về mặt xã hội và hôn nhân, quần thể Amish có tỷ lệ nội phối rất cao, làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh di truyền hiếm gặp như: hội chứng Ellis-van Creveld (lùn bẩm sinh, dị tật xương, bệnh tim bẩm sinh nghiêm trọng...), bệnh Tay-Sachs (thoái hóa thần kinh), rối loạn lysosome (không thể phân hủy chất béo và đường)…..Cho biết các bệnh và hội chứng này do đột biến gene lặn nằm trên nhiễm sắc thể thường. Cho các nhận định sau: 1. Sự gia tăng nguy cơ mắc các bệnh di truyền hiếm gặp trong cộng đồng Amish do giảm đa dạng di truyền, tăng tỉ lệ kiểu gene đồng hợp, trong đó có kiểu gene đồng hợp lặn biểu hiện thành kiểu hình. 2. Nếu một người mang gen lặn kết hôn với người không mang gen lặn, tỷ lệ con mắc bệnh sẽ giảm đáng kể. 3. Nếu 2 người đều mang gene lặn kết hôn thì chắc chắn đời con sẽ mắc bệnh. 4. Giải pháp có thể giúp giảm tỉ lệ bệnh di truyền trong cộng đồng Amish là tăng cường kết hôn với người ngoài cộng đồng. Sắp xếp các nhận định đúng về quần thể người Amish theo thứ tự từ nhỏ đến lớn.

Xem chi tiết 1.4 K lượt xem 7 tháng trước

Khi nghiên cứu mối quan hệ sinh thái giữa các loài có quan hệ gần gũi, nhà khoa học Gause đã tiến hành nuôi 3 loài trùng cỏ: Paramecium aurelia, Paramecium bursaria, Paramecium caudatum có cùng nhu cầu dinh dưỡng và các nhân tố sinh thái cần thiết. Thí nghiệm được tiến hành như sau: Thí nghiệm 1: Nuôi riêng mỗi loài trong một bể (các bể có điều kiện sống như nhau), sau 24 giờ thì thấy cả 3 loài cùng tăng trưởng ổn định theo đường cong hình chữ S (đường cong logistic). Thí nghiệm 2: Nuôi chung loài Paramecium aurelia và loài Paramecium caudatum trong 1 bể: sau 24 giờ trong bể chỉ còn loài Paramecium aurelia. Thí nghiệm 3: Nuôi chung loài Paramecium bursaria và loài Paramecium aurelia trong 1 bể: kết quả sau một thời gian 2 loài vẫn cùng sinh trưởng với nhau trong bể.                      a) Trong ba loài trên, loài P. bursaria có tốc độ sinh trưởng chậm nhất. b) Hai loài P. aurelia và loài P. caudatum có mối quan hệ cạnh tranh khốc liệt. c) Loài Paramecium bursaria và loài Paramecium caudatum có mối quan hệ hợp tác nên sinh trưởng tốt hơn trong cùng một môi trường. d) Trùng cỏ được nuôi làm thức ăn cho cá bột. Để đạt năng suất cao nhất có thể nuôi kết hợp các loài với nhau. 

Xem chi tiết 0.9 K lượt xem 7 tháng trước