(2025 mới) Đề ôn thi tốt nghiệp THPT môn Văn có đáp án (Đề số 11)
192 người thi tuần này 4.6 5.5 K lượt thi 7 câu hỏi 60 phút
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
🔥 Học sinh cũng đã học
Đề tham khảo tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn 2025 có đáp án - Đề 34
Đề tham khảo ôn thi Tốt nghiệp THPT Ngữ văn 2025-2026 Sở Hà Tĩnh tập huấn có đáp án - Đề 19
Đề tham khảo ôn thi Tốt nghiệp THPT Ngữ văn 2025-2026 Sở Hà Tĩnh tập huấn có đáp án - Đề 18
Đề tham khảo ôn thi Tốt nghiệp THPT Ngữ văn 2025-2026 Sở Hà Tĩnh tập huấn có đáp án - Đề 17
Đề tham khảo ôn thi Tốt nghiệp THPT Ngữ văn 2025-2026 Sở Hà Tĩnh tập huấn có đáp án - Đề 16
Đề tham khảo ôn thi Tốt nghiệp THPT Ngữ văn 2025-2026 Sở Hà Tĩnh tập huấn có đáp án - Đề 15
Đề tham khảo ôn thi Tốt nghiệp THPT Ngữ văn 2025-2026 Sở Hà Tĩnh tập huấn có đáp án - Đề 14
Đề tham khảo ôn thi Tốt nghiệp THPT Ngữ văn 2025-2026 Sở Hà Tĩnh tập huấn có đáp án - Đề 13
Danh sách câu hỏi:
Đoạn văn 2
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
NỖI BUỒN LÀNG CHIẾU
(Trích)
(Tiêu Dao – Bảo Anh)
Từng suy rồi thịnh, từng có cả trăm hộ làm nghề nhưng rồi bây giờ khung dệt bụi phủ, tay người chênh chao. Nỗi niềm của làng chiếu chẳng mấy người thấu tỏ khi chỉ duy nhất một bà lão còn dệt chiếu, nhưng cũng đầy chông chênh.
Gió buồn lay đồng cói
Làng Cẩm Nê (xã Hoà Tiến, Hoà Vang, Đà Nẵng) giờ đã khác khi đời sống người dẫn khấm khá hơn rất nhiều, bao quanh vẫn là đồng lúa đang chín vàng và chon von những ngôi nhà 2 – 3 tầng rợp bóng cây xanh. Làng từng nổi tiếng với nghề dệt chiếu, có những chiếc chiếu đặc biệt dệt để tiến vua. Người làng trong câu chuyện mỗi tối, vẫn cứ nhớ về cha ông mình với câu chuyện về một chiếc chiếu hoa được tiến kinh ngày trước. Chiếu rộng 2,5 mét và dài tới 25 mét, được những người dệt chiếu lão luyện làm trong gần một tháng. Nhờ chiếc chiếu ấy, người làng đã được ban thưởng trọng hậu và sau kì tích đó, tiếng tăm chiếu Cẩm Nê đã bay đi khắp nước.
[...] Nhưng làng chiếu bây giờ dường như chỉ còn cái tên, bởi chẳng còn những lách cách thoi đưa, những sợi cói rực rỡ trong nắng, những bãi đay bãi lúc rì rào trong gió, tất cả chỉ là một thời quả vãng. Những cơn lốc của thị trường đã cuốn làng chiếu lao đao. Nào là những sản phẩm đệm, rồi chiếu nhựa, chiếu công nghiệp, thảm các loại với giá rẻ đã đánh sập cái nghề truyền thống mấy trăm năm của làng.
Quả trưa, bà Dương Thị Thông (65 tuổi) mới tất tả đạp xe về. Bà là con gái cụ Ngô Thị Thân – một nghệ nhân dệt chiếu hơn 70 năm làm nghề của làng. Bà Thông, con gái cụ, cũng là một nghệ nhân, nhưng lại là người cuối cùng còn dệt chiếu ở làng. Trước cửa, tấm biển giới thiệu sản phẩm làng nghề chiếu Cẩm Nê của bà đã bạc như cái nghề của cha ông đang lay lắt ở chính nơi này. Giờ bà Thông chỉ thi thoảng mới dệt chiếu, khi có khách đặt hàng, hay khi có đoàn du lịch tới thăm và chỉ những dịp cuối năm, khi việc nông đã vãn, việc làm thuê cũng vơi, còn lại ngày ngày bà đi phụ hồ, đi nấu đám tiệc, hay làm các công việc lặt vặt khác. Bởi, nghề gia truyền giờ không còn nuôi sống nổi thân mình, bỏ thì cũng tiếc lắm chứ! Cái nghề dệt chiếu như máu như thịt, là nghề gia truyền khi ông bà nội và cha mẹ bà cũng là những nghệ nhân dệt chiếu trong làng. Tuy trải nhiều giai đoạn thăng trầm, gia đình bà vẫn cố gắng giữ cho được nghề. Ngay từ năm 10 tuổi, bà Thông đã được cha mẹ truyền lại và cho đến nay, bà đã gắn bó với nghề
hơn 55 năm qua
Trong mạch ngầm trí nhớ, bà Thông vẫn mường tượng ra cảnh người làng từ già đến trẻ, người trồng lác, người chăm đay, người xe sợi, người nhuộm cói,... tiếng gọi tiếng cười, tiếng thoi tiếng cửu rộn ràng với cả tiếng mua bán giăng kín cả làng chiếu này. [...]
Công làm một chiếc chiếu không hề nhỏ, từ việc gặt lác, chặt đay về đem phơi, rồi nấu phẩm lên và nhúng sợi lác vào, nhúng từng nắm một và mang phơi nắng. [...] Mỗi khung dệt có hai người tham gia. Trong đó, một người luồn cói và người kia dùng go dệt cói vào đay cho chắc chắn. Chiếu dệt xong mang phơi khắp sân, rồi cuối cùng ghim các đầu dây đay để cho hai đầu chiếu khỏi bung ra. [...] Mỗi đôi chiếu đặt làm đặc biệt thì giá 700.000 – 800.000 đồng, tương đương với chiếu trúc làm máy. Sau khi trừ tiền thuê nhân công và nguyên vật liệu thì gần như không còn một đồng lời. Do không có nguồn nguyên liệu tại chỗ, người làng chiếu phải đặt mua sợi cói từ địa phương khác, lấy công phơi, nhuộm cói, dệt chiếu làm lời. Mỗi chiếc chiếu thủ công thông thường được bán với giá khoảng 250.000 300.000 đồng. Sau khi trừ các khoản chi phí, số tiền bán được có khi cũng không đủ trang trải cuộc sống. Bởi vậy, cái nghề cứ dần lụi đi trông thấy.
Người còn nhớ tiếng thoi đưa
Tôi đi khắp làng, ngang qua những xóm Đùng, xóm Đồng Khánh, xóm Bến Đò, xóm Bến Bắc, xóm Dinh, xóm Làng,... chẳng còn vang tiếng loạch xoạch của người làm chiếu nữa. Nhiều người già trong làng cũng đau đáu với cái nghề của cha ông. Nhưng, đành chịu. Cuộc sống của những người làm chiếu rơi vào khó khăn, người làng lần lượt bỏ nghề, những khung dệt dần đóng bụi. “Cách đây 5 – 7 năm, sau nhiều năm cất giữ với ước mong hồi sinh làng nghề, nhiều nhà đành phá khung dệt vì chật nhà. Người làng cái tay không còn quen đưa thoi, bàn chân không còn quen dập, con mắt không còn quen nhìn màu nhuộm nữa. Đau lòng lắm!”, bà Ngô Thị Mua (66 tuổi, trú thôn Cẩm Nê), người phụ làm chiếu với bà Thông bộc bạch.
Còn bà Thông gắn bó với nghề hơn 50 năm, trải qua biết bao những thăng trầm cùng khung dệt, bà Thông vẫn không nỡ rời xa. Ngày trước cả làng có khoảng 200 hộ nhưng hộ nào cũng dệt chiếu mưu sinh. Khung cảnh làng quê nhộn nhịp lắm. Còn bây giờ, gần 700 hộ dân mà chỉ còn mình bà Thông bám trụ. Nguyện vọng duy nhất của bà là giữ nghề cho đến khi nằm xuống. Không làm thường xuyên nữa nhưng cần thì vẫn dệt chiếu để giữ lấy thương hiệu làng nghề. Dù vậy, tuổi đã cao, thỉnh thoảng bà Thông mới ngồi vào khung dệt. Chiếc khung dệt hầu như nằm lặng lẽ ở góc sân mà nhớ bàn tay đưa thoi.
(Trích Nỗi buồn làng chiếu, https://antg.cand.com.vn/Phong-su/noi-buon-lang- chieu-i733372/, 06/06/2024)
Lời giải
Các chi tiết, sự kiện xác thực được nhắc tới trong văn bản là thông tin được điều tra và ghi chép lại: Tên và địa chỉ của làng chiếu Cẩm Nê Làng Cẩm Nê giờ đã khấm khá hơn, nhưng không phải là nhờ nghề dệt chiếu; Tác giả vào làng, đi qua khắp các xóm (tên các xóm), nhưng không còn thấy dấu hiệu âm thanh, hình ảnh đẹp đẽ, tươi vui đặc trưng của làng chiếu nổi tiếng một thời nữa; Bà Dương Thị Thông là người dệt chiếu cuối cùng của làng nghề này, bà Ngô Thị Mua – người phụ làm chiếu với bà Thông – đã cung cấp các thông tin cho tác giả (thông tin về tên tuổi của người cung cấp thông tin, lời kể, giá cả, thu nhập từ nghề làm chiếu, nguyện vọng,... Theo lời bà Thông, tác giả ghi chép được các thông tin về nguyên nhân khiến nghề dệt chiếu dần tàn lụi, về thực trạng đau lòng của làng nghề Cẩm Nê, về nỗi niềm và khát vọng tha thiết của một nghệ nhân dệt chiếu đã 65 tuổi,...)
Lời giải
Học sinh chỉ ra được biện pháp tu từ nhân hoá được sử dụng trong câu văn (khung dệt nằm lặng lẽ; khung dệt nhớ bàn tay đưa thoi).
Lời giải
Người viết kể đan xen các sự việc trong quá khứ và hiện tại bằng lời tác giả và dẫn lời nhân vật, trong đó, số phận cái khung dệt được nhắc đến nhiều lần: Thời nghề dệt chiếu còn thịnh ở làng, “Mỗi khung dệt có hai người tham gia. Trong đó, một người luồn cói và người kia dùng go dệt cói vào đay cho chắc chắn”. Khi “Cuộc sống của những người làm chiếu rơi vào khó khăn, người làng lần lượt bỏ nghề, những khung dệt dần đóng bụi”. Bà Ngô Thị Mua bộc bạch: “Cách đây 5 7 năm, sau nhiều năm cất giữ với ước mong hồi sinh làng nghề, nhiều nhà đành phá khung dệt vì chật nhà”. Cuối cùng, qua điểm nhìn của nhân vật bà Thông, tác giả kể: “Chiếc khung dệt hầu như nằm lặng lẽ ở góc sân mà nhớ bàn tay đưa thoi”. Ở mỗi chi tiết được kể, tác giả đều miêu tả cái khung dệt một cách cặn kể: mỗi khung dệt có hai người tham gia, một người luồn cói, một người dùng go dệt cói vào đay cho chắc chắn; những khung dệt dần đóng bụi; khung dệt bị phá vì vô dụng, để chỉ “chật nhà”; khung dệt nằm lặng lẽ ở góc sân mà nhớ bàn tay đưa thoi.
Sự miêu tả kĩ lưỡng, đầy xúc cảm kết hợp với việc trần thuật bao quát nhiều thời điểm, qua nhiều lời kể đã làm hình ảnh cái khung dệt hiện lên thật ấn tượng, qua đó, số phận những cái khung dệt ở các gia đình làm nghề dệt chiếu ở làng Cẩm Nê được khắc hoạ sinh động, giàu sức truyền cảm. Số phận của cái khung dệt cũng chính là số phận của làng nghề dệt chiếu Cẩm Nê. Việc kể và tả cái khung dệt làm nổi bật lên chủ đề của văn bản: cảm thương, chia sẻ với những nghệ nhân suốt một đời gắn bó với nghề; xót xa, tiếc nuối cho nghề dệt chiếu, làng nghề truyền thống Cẩm Nê đang có nguy cơ bị xoá bỏ trong cuộc sống hiện đại; tha thiết kêu gọi giải pháp thiết thực để khôi phục, giữ gìn những làng nghề truyền thống lâu đời như làng chiếu Cẩm Nê.
Lời giải
Trước thực trạng xuống cấp, bị lãng quên, có nguy cơ biến mất của làng nghề dệt chiếu Cẩm Nê, tác giả thể hiện sự chia sẻ với người dân làng chiếu, đồng cảm với nỗi niềm của nghệ nhân; tiếc nuối một làng nghề có truyền thống mấy trăm năm đang có nguy cơ bị xoá bỏ, sẽ rất đau lòng nếu sự thật này xảy ra;
trăn trở, có phần bất lực trước thực trạng, sự thật khó thay đổi về nguy cơ làng chiếu biến mất; tha thiết lên tiếng kêu gọi tìm giải pháp tháo gỡ tình trạng này để cứu giữ làng nghề Cẩm Nê.
Lời giải
Học sinh có thể đưa một hoặc một số ý kiến, suy nghĩ cá nhân và diễn giải cụ thể. Gợi ý: (1) Xã hội thay đổi, cuộc sống hiện đại đặt các nghề thủ công trước nguy cơ tất yếu bị cạnh tranh dẫn đến dần xoá bỏ. Chúng ta cần chấp nhận hiện thực này và xã hội cần có giải pháp hỗ trợ việc mưu sinh cho người dân; (2) Cần có giải pháp bảo tồn hợp lí cho các làng nghề và tôn vinh, hỗ trợ các nghệ nhân để các làng nghề “vui trở lại”; (3) Cần thêm nhiều tiếng nói, bài phóng sự sâu sắc, xúc động như thế này, cần có thêm nhiều bàn tay chung sức để giải quyết các vấn đề chung của xã hội,...
Lời giải
a. Mở đoạn: Nêu được vấn đề: Trong bài thơ Những người đàn bà gánh nước sông của Nguyễn Quang Thiều có nhiều yếu tố tượng trưng, chúng làm nên sự hấp dẫn, đa nghĩa, hàm súc cho bài thơ.
b. Thân đoạn: Chọn một yếu tố tượng trưng trong bài thơ và phân tích vai trò của yếu tố tượng trưng đó trong việc thể hiện nội dung bài thơ
(1) Nêu ngắn gọn cách hiểu về yếu tố tượng trưng và lựa chọn yếu tố tượng trưng trong bài thơ. (Gợi ý chọn yếu tố tượng trưng trong bài thơ: Trong văn bản có các hình ảnh thơ mang yếu tố tượng trưng sau: hình ảnh những người đàn bà gánh nước sông; hình ảnh người đàn ông mang cần câu và cơn mơ biển ra khỏi nhà lặng lẽ; cặp hình ảnh “đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi” và “mây trắng”; hình ảnh “Cá Thiêng quay mặt khóc”,...)
(2) Gợi ý phân tích, làm rõ ý nghĩa thực, ý nghĩa tượng trưng của từng hình ảnh: + Người đàn bà gánh nước sông: người phụ nữ tảo tần, lam lũ (yếu tố tượng trưng có trong cách miêu tả ngoại hình) cả đời gánh nước sông về nhà, về bếp (tượng trưng về công việc, sản phẩm). Đây là hình ảnh người mẹ, người vợ, người chị, người con gái,... gánh cả gánh nặng mưu sinh, lo toan cho gia đình trên vai; + Người đàn ông mang cần câu và cơn mơ biển ra khỏi nhà lặng lẽ: người đàn ông khát vọng, nỗ lực nhưng rồi bất lực, lặng lẽ, luẩn quẩn trong giấc mơ mưu sinh luôn thất bại. Đây là một hình ảnh tượng trưng cho sự bất lực của con người trong khát vọng về hạnh phúc vô vọng.; + Câu thơ “Một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi/ Bàn tay kia bấu vào mây trắng” liên quan đến các cặp phạm trù: bấp bênh và cân bằng, hiện thực và lãng mạn (cuộc mưu sinh vất vả, sự nghiệt ngã của cuộc sống và không thôi hi vọng), đáng thương và đáng quý trọng,... Đây là hình ảnh tượng trưng cho niềm khát vọng, sự lạc quan, bay bổng ở con người dù cho cuộc sống vất vả, nhọc nhằn, chông chênh đến nhường nào. Cũng chính phẩm chất tâm hồn ấy đã níu giữ, đã khiến họ bền bỉ, nhẫn nại chịu đựng và hi sinh cho gia đình, cho cuộc đời...; + Cá Thiêng quay mặt khóc: “Cá Thiêng” chỉ cơ hội lớn - cùng trường nghĩa với “cơn mơ biển”, “đi câu” (cách thức để có được cơ hội lớn đó), “lộ mồi” (một cách thức làm sai hoặc kém cỏi). “Cá Thiêng quay mặt khóc”, “phao ngô chết nổi” nghĩa là cơ hội lớn chưa đến bởi cách “câu” sai. Không nắm bắt được cơ hội lớn, cơ hội đổi đời là do con người khờ khạo, non nớt, kém cỏi, chưa đủ sức, chưa thể cạnh tranh được với đời. Ở đây, mở rộng trường liên tưởng, có thể nghĩ tới vận mệnh của một con người, vận mệnh một tập thể, cộng đồng,...); (2) Phân tích tác dụng của yếu tố tượng trưng trong việc thể hiện nội dung chủ đề, cảm hứng chủ đạo của bài thơ: + Nội dung cảm hứng của bài thơ liên quan đến sự lao động bền bỉ, không than thở của những người phụ nữ trên xứ sở chúng ta từ đời này qua đời khác. Cách gọi “những người đàn bà” (bên cạnh “người đàn ông”) nhằm nhấn mạnh đặc trưng giới tính. Những người này mang những đặc trưng tính cách đàn bà muôn đời: đa cảm, đa mang, giàu sức chịu đựng, đức hi sinh; vì gánh nặng gia đình trên vai, họ càng trở nên kiên cường, mạnh mẽ. Ý nghĩa trân trọng, ngợi ca đi cùng nội dung cảm hứng thấu hiểu, xót xa; + Những yếu tố tượng trưng trong bài thơ đều hướng đến một triết lí nhân sinh: Có những nỗi đau thầm lặng đằng sau bề ngoài khô kệch, cằn cỗi. Con người càng vất vả, cô đơn càng khát khao được sống, được đổi đời. Càng hiểu càng thêm biết ơn những người mẹ đã tảo tần gánh vác và hi sinh. Khi nhận ra sự thật và chân giá trị, sự cơ cực khiến ta sẽ buồn đau, nhưng cũng khiến ta thêm mạnh mẽ, có động lực, khát vọng vươn lên đổi đời, hạnh phúc,...
c. Kết đoạn: Khẳng định lại vấn đề nghị luận: Sức sáng tạo, khả năng liên tưởng, tưởng tượng, kết nối sâu xa, lí trí sắc sảo, cảm xúc mạnh mẽ của tác giả đã kiến tạo những hình ảnh thơ tượng trưng. Yếu tố tượng trưng trong bài thơ đã thể hiện nỗi đau xót, niềm biết ơn và sức vươn dậy kiên cường trong cảm xúc thơ của tác giả Nguyễn Quang Thiều.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Xem tiếp với tài khoản VIP
Còn 1/7 câu hỏi, đáp án và lời giải chi tiết.
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.