20+ câu Trắc nghiệm Kinh tế nguồn nhân lực có đáp án - Phần 1
4.6 0 lượt thi 7 câu hỏi
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
🔥 Học sinh cũng đã học
500+ câu Trắc nghiệm Toán ứng dụng trong kinh tế có đáp án - Phần 25
500+ câu Trắc nghiệm Toán ứng dụng trong kinh tế có đáp án - Phần 24
500+ câu Trắc nghiệm Toán ứng dụng trong kinh tế có đáp án - Phần 23
500+ câu Trắc nghiệm Toán ứng dụng trong kinh tế có đáp án - Phần 22
500+ câu Trắc nghiệm Toán ứng dụng trong kinh tế có đáp án - Phần 21
500+ câu Trắc nghiệm Toán ứng dụng trong kinh tế có đáp án - Phần 20
500+ câu Trắc nghiệm Toán ứng dụng trong kinh tế có đáp án - Phần 19
500+ câu Trắc nghiệm Toán ứng dụng trong kinh tế có đáp án - Phần 18
Danh sách câu hỏi:
Lời giải
Sức lao động là khả năng lao động của con người, là tổng hợp thể lực và trí lực của con người, được con người vận dụng trong quá trình lao động.
Các chỉ tiêu đánh giá sức lao động:
Khả năng về thể chất (thể lực): chỉ rõ khả năng làm việc chân tay, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu như chiều cao, cân nặng, sức khỏe, cơ bắp, thị lực, thính lực,...
Khả năng về tinh thần (trí lực): chỉ rõ khả năng làm việc trí tuệ, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, kinh nghiệm công tác,...
Năng lực phẩm chất (tâm lực): chỉ rõ tính năng động, sáng tạo, thái độ làm việc, lòng tự tin, khả năng thích ứng, dễ chuyển đổi, làm việc có tinh thần trách nhiệm với cá nhân, nhóm và tổ chức,...
Sự khác nhau cơ bản giữa khái niệm sức lao động và lao động:
Nói đến sức lao động là nói đến khả năng lao động.
Nói đến lao động là nói đến hành động đang diễn ra.
Để biến khả năng lao động thành hiện thực cần phải có những điều kiện nhất định (điều kiện vật chất, con người, môi trường xã hội,...). Thiếu những điều kiện này thì quá trình lao động không diễn ra được.
Lời giải
Lao động (LĐ) là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người.
Hoạt động lao động có 3 đặc trưng cơ bản:
Về tính chất: hoạt động lao động phải có mục đích của con người.
Về mục đích: hoạt động đó phải tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người.
Về nội dung: hoạt động của con người phải là sự tác động vào tự nhiên làm biến đổi tự nhiên và xã hội nhằm tạo ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ lợi ích con người.
Nhận xét:
Nói đến sức lao động (SLĐ) là nói đến khả năng lao động.
Nói đến LĐ là nói đến hành động đang diễn ra.
Để biến khả năng lao động (SLĐ) thành hiện thực (LĐ) cần phải có những điều kiện nhất định (vật chất, con người, môi trường xã hội...). Thiếu những điều kiện này, quá trình lao động không thể diễn ra được.
Lời giải
Hoạt động lao động của con người được coi là hoạt động lao động khi hội tụ đủ các đặc trưng cơ bản:
Tính mục đích: hoạt động phải do con người tự giác thực hiện với mục tiêu xác định.
Tính tạo ra của cải vật chất hoặc tinh thần: kết quả của hoạt động lao động phải phục vụ nhu cầu của con người.
Tính tác động vào tự nhiên và xã hội: hoạt động của con người phải biến đổi tự nhiên hoặc xã hội nhằm đạt mục đích.
Giải thích:
Nếu một hoạt động không có mục đích thì chỉ là hoạt động sinh tồn hay vận động cơ thể, chưa phải là lao động.
Nếu hoạt động không tạo ra sản phẩm, không phục vụ nhu cầu con người thì chưa được coi là lao động.
Nếu hoạt động không tác động vào tự nhiên, xã hội để biến đổi môi trường nhằm đạt mục đích thì cũng không phải là lao động.
Khi con người tham gia vào quá trình sản xuất thì con người đó là con người lao động.
Như vậy, lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người.
Hoạt động lao động có 3 đặc trưng cơ bản:
Xét về tính chất: hoạt động lao động phải có mục đích (có ý thức) của con người.
Đặc trưng này chỉ ra sự khác biệt giữa hoạt động lao động của con người và hoạt động có tính bản năng của con vật.
Con vật duy trì sự tồn tại của mình dựa vào những sản vật có sẵn trong tự nhiên, còn con người dùng sức lao động của bản thân để tạo ra những sản phẩm cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình cũng như của cộng đồng xã hội.
Xét về mục đích: hoạt động đó phải tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người.
Điều này phân biệt với những hoạt động có mục đích không nhằm thỏa mãn nhu cầu chính đáng của con người, không nhằm phục vụ cho con người hay sự tiến bộ của xã hội.
Những hoạt động đó không thể gọi là hoạt động lao động.
Xét về mặt nội dung: hoạt động của con người phải là sự tác động vào tự nhiên làm biến đổi tự nhiên và xã hội nhằm tạo ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ lợi ích của con người.
Điều này phân biệt với các hoạt động không tạo ra sản phẩm (vật chất và tinh thần), hoặc các hoạt động mang tính chất phá hoại tự nhiên. Những hoạt động đó không thể gọi là hoạt động lao động.
Ngày nay, hoạt động lao động được quan niệm không chỉ là khai thác tự nhiên mà còn song song với nó là sự bồi đắp, bảo tồn tự nhiên.
Đến đây, có thể thấy được sự khác nhau cơ bản giữa khái niệm sức lao động và lao động:
Nói đến sức lao động là nói đến khả năng lao động.
Nói đến lao động là nói đến hành động đang diễn ra.
Như vậy, để biến khả năng lao động (sức lao động) thành hiện thực (lao động) cần phải có những điều kiện nhất định (điều kiện vật chất, điều kiện con người, môi trường xã hội...), mà thiếu những điều kiện này, quá trình lao động không thể diễn ra được.
Lời giải
Lao động: là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu của con người, dựa theo không gian và thời gian.
Sức lao động: là khả năng lao động của con người, là tổng hợp thể lực và trí lực của con người, được con người vận dụng trong quá trình lao động.
Các chỉ tiêu đánh giá sức lao động:
Thể chất: sức khỏe, chiều cao, cân nặng, cơ bắp,...
Trí lực: trình độ văn hóa, chuyên môn, kỹ thuật, kinh nghiệm công tác,...
Tâm lực: thái độ làm việc, năng lực phẩm chất, khả năng thích ứng, tinh thần trách nhiệm,...
Sự khác nhau cơ bản giữa sức lao động và lao động:
Sức lao động là khả năng lao động, lao động là hành động đang diễn ra.
Mối quan hệ: Sức lao động là điều kiện để lao động xảy ra; để biến sức lao động thành lao động, cần có các điều kiện về vật chất, con người và môi trường xã hội.
Phần 2: Nguồn nhân lực và phân bổ NNL
Lời giải
Khái niệm nguồn nhân lực (NNL):
NNL là khả năng lao động của những người đủ tuổi lao động trở lên, bao gồm:
Những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.
Những người ngoài độ tuổi lao động thực tế có tham gia lao động.
Tiếp cận theo dự báo:
Trên thực tế, sử dụng công thức (1) phản ánh chính xác vì có những người dưới độ tuổi lao động vẫn tham gia lao động, nhưng luật cấm trẻ em nên khi đưa vào thống kê thì không tính.
Mối quan hệ giữa nguồn nhân lực và phát triển kinh tế-xã hội:
a. Khái niệm:
Nguồn nhân lực:
Nghĩa rộng: xét về quy mô, tương đương với dân số.
Nghĩa hẹp: là khả năng lao động của xã hội, của toàn bộ những người có cơ thể phát triển bình thường, có khả năng lao động mà xã hội có thể thu hút và tham gia vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội, bao gồm những người trong và ngoài độ tuổi lao động.
Phát triển kinh tế-xã hội: là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người, qua việc:
Sản xuất ra của cải vật chất.
Cải tiến quan hệ xã hội.
Nâng cao chất lượng văn hóa.
b. Mối quan hệ giữa nguồn nhân lực và phát triển kinh tế-xã hội:
b.1. Sự tác động của nguồn nhân lực tới phát triển kinh tế-xã hội:
Tác động tích cực:
Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội.
Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác.
Là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm phát triển bền vững.
Là điều kiện để hội nhập kinh tế quốc tế.
Tác động tiêu cực:
Nguồn nhân lực chất lượng thấp, không có chuyên môn, tay nghề sẽ không tham gia vào các ngành công nghiệp trình độ cao (điện, cơ khí, điện tử…), làm nền kinh tế chậm phát triển.
Không có hiểu biết về khoa học kỹ thuật nên không thể áp dụng máy móc, trang thiết bị kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa bị chậm lại do nguồn nhân lực không đáp ứng được các yêu cầu về kỹ năng, độ lành nghề…
b.2. Tác động của phát triển kinh tế đến nguồn nhân lực:
Trình độ phát triển kinh tế-xã hội quyết định trình độ phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao.
Kinh tế tạo nền tảng cho sự phát triển của xã hội, của con người, trong đó có nguồn nhân lực.
Trình độ phát triển kinh tế-xã hội góp phần nâng cao mức sống, có điều kiện chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể lực, trí lực, tuổi thọ và năng suất lao động.
Kinh tế phát triển tạo điều kiện đầu tư cho giáo dục và đào tạo, từ đó trực tiếp tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao.
Cơ cấu chuyển dịch kinh tế theo hướng hiện đại phù hợp với quy luật thế giới đòi hỏi chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực, tăng hàm lượng tri thức.
→ Kết luận:
Một quốc gia phát triển cao sẽ có nguồn nhân lực chất lượng cao (trình độ học vấn, sức khỏe, tuổi thọ).
Ngược lại, quốc gia có trình độ kinh tế thấp thì phát triển nguồn nhân lực gặp nhiều hạn chế.
c. Liên hệ thực tiễn Việt Nam:
Tháng 12/2010, Việt Nam có gần 87 triệu người, chủ yếu là nông dân, công nhân, tri thức, doanh nhân… kéo theo tốc độ phát triển kinh tế-xã hội ước tính tăng 6,78%.
Năm 2010, có 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo trên tổng số 48,8 triệu lao động.
Giai đoạn 2011-2015, tỉ lệ nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng phát triển mạnh, kéo theo tốc độ GDP tăng nhanh:
Nhóm ngành dịch vụ: tăng 6,34%.
Nông – lâm – ngư nghiệp: tăng 3%.
Công nghiệp – xây dựng: tăng 5,7%.
Nguồn nhân lực Việt Nam ngày càng mở rộng về quy mô và nâng cao trình độ, đáp ứng các yêu cầu chuyên môn và kỹ năng cần thiết cho các ngành công nghiệp hiện đại như cơ khí, thương mại điện tử, lọc hóa dầu, hàng không…, góp phần làm tăng trưởng kinh tế.
Nguồn nhân lực chất lượng cao
Là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm phát triển bền vững.
Là điều kiện để hội nhập kinh tế quốc tế.
Tác động tiêu cực của nguồn nhân lực chất lượng thấp:
Không có chuyên môn, tay nghề sẽ không tham gia vào các ngành công nghiệp trình độ cao như điện, cơ khí, điện tử… làm cho nền kinh tế chậm phát triển.
Không hiểu biết về khoa học kỹ thuật nên không thể áp dụng máy móc, trang thiết bị kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa bị chậm lại do không đáp ứng được yêu cầu về kỹ năng làm việc, độ lành nghề…
Tác động của phát triển kinh tế đến nguồn nhân lực:
Trình độ phát triển kinh tế-xã hội quyết định trình độ phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao.
Kinh tế tạo nền tảng cho sự phát triển của xã hội, của con người, trong đó có nguồn nhân lực.
Trình độ phát triển kinh tế-xã hội nâng cao mức sống, điều kiện chăm sóc sức khỏe, thể lực, trí lực, tuổi thọ, năng suất lao động.
Kinh tế phát triển tạo điều kiện đầu tư cho giáo dục và đào tạo, từ đó trực tiếp tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao.
Cơ cấu chuyển dịch kinh tế hiện đại phù hợp quy luật thế giới cũng đòi hỏi chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực, tăng hàm lượng tri thức.
→ Kết luận:
Quốc gia phát triển cao → nguồn nhân lực chất lượng cao (trình độ học vấn, sức khỏe, tuổi thọ).
Quốc gia kinh tế thấp → phát triển nguồn nhân lực gặp nhiều hạn chế.
Liên hệ thực tiễn Việt Nam:
Tháng 12/2010, Việt Nam có gần 87 triệu người: nông dân, công nhân, tri thức, doanh nhân… GDP tăng ước tính 6,78%.
Năm 2010: 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo trên tổng số 48,8 triệu lao động.
2011–2015: tỉ lệ nguồn nhân lực chất lượng cao tăng mạnh, kéo GDP:
Dịch vụ: tăng 6,34%
Nông – lâm – ngư nghiệp: tăng 3%
CN – XD: tăng 5,7%
Nguồn nhân lực mở rộng về quy mô, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng cần thiết cho các ngành công nghiệp hiện đại (cơ khí, thương mại điện tử, lọc hóa dầu, hàng không…) → thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Các nhu cầu xã hội khác (y tế, giáo dục, du lịch, vui chơi giải trí…) cũng được đầu tư hơn.
Số lao động được đào tạo tăng nhưng có xu hướng đi xuất khẩu lao động → dẫn đến hiện tượng “chảy máu chất xám”, hạn chế lao động chất lượng cao tham gia vào hoạt động kinh tế trong nước.
Lời giải
Khái niệm:
Chuyển dịch cơ cấu lao động: sự vận động, chuyển hóa từ cơ cấu lao động này (cũ) sang cơ cấu lao động kia (mới) phù hợp với quá trình phát triển kinh tế-xã hội.
Cơ cấu kinh tế: tổng thể các bộ phận hợp thành nền kinh tế, có mối quan hệ hữu cơ, tương tác qua lại về số lượng và chất lượng trong điều kiện không gian và kinh tế-xã hội nhất định.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác, ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển.
Là quá trình thay đổi tỷ trọng và chất lượng lao động vào các ngành, vùng khác nhau.
Chuyển dịch cơ cấu lao động theo xu hướng tiến bộ nhằm sử dụng đầy đủ và hiệu quả nguồn nhân lực để phát triển kinh tế.
Tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến cơ cấu lao động:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế quyết định chuyển dịch cơ cấu lao động.
Cơ cấu kinh tế biểu hiện tập trung nhất ở tỷ trọng tổng sản phẩm trong nước (GDP) do từng ngành, từng vùng sản xuất ra.
Khi chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra, định hướng cho thay đổi cơ cấu lao động.
Cơ cấu ngành kinh tế phản ánh sự phát triển của KH-CN, lực lượng sản xuất, phân công lao động chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất → hướng dẫn thay đổi cơ cấu lao động.
Tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động đến cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu lao động tác động trực tiếp đến cơ cấu kinh tế.
Có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển kinh tế tùy chất lượng và phân bố lao động.
Tác động của cơ cấu lao động đến cơ cấu kinh tế:
Thúc đẩy: chất lượng nguồn lao động cao làm quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh chóng và hiệu quả hơn.
Kìm hãm: nếu chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra chậm, chất lượng nguồn nhân lực không đáp ứng nhu cầu chuyển dịch sang ngành công nghiệp, dịch vụ có vốn đầu tư & công nghệ cao → gây trở ngại cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Liên hệ thực tiễn Việt Nam:
Các nghiên cứu thực tiễn cho thấy cơ cấu lao động phân bố theo ngành có quan hệ chặt chẽ với GDP bình quân đầu người.
Nếu GDP bình quân đầu người tăng → tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giảm, tỷ trọng lao động trong công nghiệp, dịch vụ tăng.
Việt Nam xuất phát từ nông nghiệp → sự chuyển dịch rõ nhất:
Tỷ trọng GDP nhóm ngành nông, lâm nghiệp – thủy sản giảm.
Tỷ trọng công nghiệp – xây dựng và dịch vụ tăng.
Công nghiệp – xây dựng phát triển liên tục, chiếm tỷ trọng lớn trong GDP (tăng từ 22,67% năm 1990 lên 40,31% năm 2004) → trở thành động lực và “đầu tàu” tăng trưởng nền kinh tế.
Cơ cấu lao động theo hướng tích cực:
Lao động nông, lâm nghiệp giảm từ 55,1% (2005) xuống 46,9% (2013).
Lao động công nghiệp – xây dựng và dịch vụ tăng từ 44,9% lên 53,6%.
Lao động dịch vụ tăng đáng kể từ 27,1% lên 32%.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Xem tiếp với tài khoản VIP
Còn 1/7 câu hỏi, đáp án và lời giải chi tiết.
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.