100 câu bài tập Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam (có đáp án) - Phần 5
4 người thi tuần này 4.6 186 lượt thi 6 câu hỏi
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
🔥 Học sinh cũng đã học
100 câu bài tập Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam (có đáp án) - Phần 5
100 câu bài tập Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam (có đáp án) - Phần 4
100 câu bài tập Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam (có đáp án) - Phần 3
100 câu bài tập Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam (có đáp án) - Phần 2
100 câu bài tập Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam (có đáp án) - Phần 1
122 câu bài tập Tư tưởng Hồ Chí Minh (có đáp án) - Phần 5
122 câu bài tập Tư tưởng Hồ Chí Minh (có đáp án) - Phần 4
122 câu bài tập Tư tưởng Hồ Chí Minh (có đáp án) - Phần 3
Danh sách câu hỏi:
Lời giải
Câu 121:
Mục tiêu:
Lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của Tổ quốc. Mở rộng đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế là để tạo thêm nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước; kết hợp nội lực với các nguồn lực từ bên ngoài tạo thành nguồn lực tổng hợp để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; phát huy vai trò và nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ khu vực và quốc tế.
Nhiệm vụ:
Giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Tư tưởng chỉ đạo:
-
Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính là xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đồng thời thực hiện nghĩa vụ quốc tế theo khả năng của Việt Nam.
-
Giữ vững độc lập tự chủ, tự cường đi đôi với đẩy mạnh đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại.
-
Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; cố gắng thúc đẩy mặt hợp tác, nhưng vẫn phải đấu tranh dưới hình thức và mức độ thích hợp với từng đối tác; đấu tranh để hợp tác; tránh trực diện đối đầu, tránh bị đẩy vào thế cô lập.
-
Mở rộng quan hệ với mọi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội.
-
Kết hợp đối ngoại của Đảng, đối ngoại Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Xác định hội nhập kinh tế quốc tế là công việc của toàn dân.
-
Giữ vững ổn định chính trị, kinh tế - xã hội; giữ gìn bản sắc dân tộc; bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
-
Phát huy tối đa nội lực đi đôi với thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.
-
Trên cơ sở thực hiện các cam kết gia nhập WTO, đẩy nhanh nhịp độ cải cách thể chế, cơ chế, chính sách phát triển kinh tế phù hợp với chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước.
-
Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Lời giải
Chủ trương đối ngoại của Đảng
- Đưa các quan hệ đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững.
- Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp.
- Bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế kinh tế phù hợp với các nguyên tắc, quy định của WTO.
- Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy Nhà nước.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm trong hội nhập kinh tế quốc tế.
- Giải quyết tốt các vấn đề văn hóa, xã hội và môi trường trong quá trình hội nhập.
- Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại.
- Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động đối ngoại.
Thành tựu
- Phá thế bị bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Giải quyết hòa bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ, biên đảo với các nước liên quan.
- Mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa (thiết lập, mở rộng quan hệ với các nước, tham gia tích cực tại Liên hợp quốc…).
- Tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế (tham gia AFTA, APEC, WTO).
- Thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường, tiếp thu khoa học công nghệ và kỹ năng quản lý.
- Từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh.
Ý nghĩa
- Kết hợp nội lực với ngoại lực, hình thành sức mạnh tổng hợp, góp phần đưa đến những thành tựu kinh tế to lớn.
- Giữ vững, củng cố độc lập tự chủ, định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Hạn chế và nguyên nhân
- Trong quan hệ với các nước, nhất là các nước lớn, chúng ta còn lúng túng, bị động…
- Một số chủ trương, cơ chế, chính sách chậm được đổi mới so với yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế; luật pháp, chính sách quản lý kinh tế - thương mại chưa hoàn chỉnh.
- Chưa hình thành được một số kế hoạch tổng thể và dài hạn về hội nhập kinh tế quốc tế và một lộ trình hợp lý cho việc thực hiện các cam kết.
- Doanh nghiệp nước ta còn yếu cả về sản xuất, quản lý và khả năng cạnh tranh.
- Đội ngũ cán bộ công tác đối ngoại còn thiếu và yếu; công tác tổ chức chỉ đạo chưa sát và chưa kịp thời.
Lời giải
Hoàn cảnh lịch sử của Cao trào dân chủ 1936 – 1939
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới của chủ nghĩa tư bản đẩy những mâu thuẫn vốn có của chúng ngày càng sâu sắc. Chủ nghĩa phát xít đã ra đời. Đó là nền chuyên chính độc tài nhất, tàn bạo nhất, sô-vanh nhất, hiếu chiến nhất của bọn tư bản tài chính phản động. Chuyên chính phát xít đã được thiết lập, tiêu biểu ở Đức – Ý – Nhật và một số nước khác. Phong trào chống phát xít nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước, đã thu hút các lực lượng có xu hướng chính trị khác nhau.
Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản nhận định: “Lực lượng phản cách mạng phát xít đang tấn công vào chế độ dân chủ tư sản, đang ra sức bắt những người lao động phải sống dưới chế độ bóc lột và bị đàn áp dã man nhất, ngày nay trong nhiều nước tư bản chủ nghĩa; quần chúng lao động phải lựa chọn một cách cụ thể không phải giữa chuyên chính vô sản với chế độ dân chủ tư sản mà là giữa chế độ dân chủ tư sản với chủ nghĩa phát xít”.
Vậy kẻ thù nguy hiểm nhất của nhân dân thế giới lúc này không phải là chủ nghĩa tư bản hoặc chủ nghĩa đế quốc nói chung mà là chủ nghĩa phát xít; nhiệm vụ trước mắt của giai cấp công nhân quốc tế là đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, giành dân chủ và hòa bình. Giai cấp công nhân quốc tế phải thống nhất hàng ngũ của mình, lập mặt trận nhân dân rộng rãi.
Đối với các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, “vấn đề mặt trận thống nhất chống đế quốc có tầm quan trọng đặc biệt”.
Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản đã giúp Đảng ta trong việc phân tích tình hình, đề ra nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới.
Ở Pháp, Mặt trận Nhân dân Pháp được thành lập (5-1935) đã giành được thắng lợi trong cuộc Tổng tuyển cử năm 1936, một chính phủ tiến bộ – Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp ra đời.
Ở nước ta, cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 đã tác động sâu sắc đến đời sống các giai cấp, các tầng lớp nhân dân lao động, đến cả các nhà tư sản, địa chủ hạng vừa và nhỏ. Bọn cầm quyền phản động ở Đông Dương vẫn thi hành chính sách bóc lột, vơ vét và khủng bố, đàn áp dã man phong trào cách mạng của nhân dân ta.
Tháng 7-1936, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Thượng Hải (Trung Quốc) do đồng chí Lê Hồng Phong chủ trì. Hội nghị nhận định: Nhiệm vụ cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ đế quốc Pháp, giành độc lập dân tộc, xóa bỏ giai cấp địa chủ, thực hiện người cày có ruộng không hề thay đổi, nhưng chưa phải là nhiệm vụ cách mạng trực tiếp trong lúc này.
Yêu cầu cấp thiết trước mắt của nhân dân Đông Dương là tự do, dân chủ, cải thiện đời sống. Phải thành lập Mặt trận nhân dân phản đế rộng rãi “bao gồm các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị và tín ngưỡng tôn giáo khác nhau đấu tranh đòi những điều dân chủ đơn sơ...”
Hội nghị đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược với mục tiêu cụ thể trước mắt của cách mạng nước ta.
Do đó, đã nhanh chóng đưa phong trào cách mạng của quần chúng lên một giai đoạn mới.
Thành quả và bài học kinh nghiệm của Cao trào dân chủ 1936 – 1939
Thực hiện chủ trương, chính sách mới, Đảng đã vượt qua bao trở lực, khó khăn do sự đàn áp của kẻ thù, sự phá hoại của bọn Tơ-rốt-kít, những xu hướng sai lầm, tả khuynh, hữu khuynh trong nội bộ phong trào. Đảng đã thu được nhiều thắng lợi có ý nghĩa to lớn:
Uy tín của Đảng lan rộng, thấm sâu vào những tầng lớp quần chúng rộng rãi; đã động viên, giáo dục chính trị, xây dựng tổ chức, đoàn kết đấu tranh cho hàng triệu quần chúng, thông qua những cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh tư tưởng rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, từ nhà máy đến đồn điền, hầm mỏ đến các làng mạc, thôn xóm.
Thắng lợi to lớn đó tạo nên những tiền đề để Đảng đưa quần chúng vào những trận chiến đấu kiên quyết sau này.
Những bài học kinh nghiệm
-
Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược và mục tiêu trước mắt, xác định đúng kẻ thù, nhiệm vụ cụ thể và khẩu hiệu sát hợp để động viên quần chúng lên trận tuyến cách mạng.
-
Kết hợp hoạt động bất hợp pháp và hoạt động công khai, hợp pháp; sử dụng mọi hình thức tổ chức và đấu tranh; chống khuynh hướng bảo thủ, rụt rè, đồng thời chống chủ nghĩa công khai, hợp pháp, không coi trọng xây dựng Đảng bí mật và hoạt động bất hợp pháp của Đảng; sẵn sàng về tư tưởng và tổ chức để chuyển hướng hoạt động khi tình hình thay đổi đột ngột.
-
Phải giữ vững sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng, giữ nghiêm kỷ luật trong Đảng, nâng cao tinh thần trách nhiệm, năng lực tự động công tác, phát huy sáng kiến của từng đảng viên, từng chi bộ Đảng.
-
Phấn đấu xây dựng một mặt trận thống nhất dân chủ rộng rãi, vững mạnh do Đảng lãnh đạo. Có đường lối, sách lược liên minh đúng đắn với các bạn đồng minh, đập tan mọi âm mưu và thủ đoạn xuyên tạc, phá hoại của bọn phản động.
Lời giải
Hoàn cảnh lịch sử
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Chính phủ Pháp đã tham chiến. Ở Đông Dương, thực dân Pháp đã thi hành chính sách thống trị thời chiến.
Trước sự biến động lớn đó, Đảng đã kịp thời điều chỉnh chiến lược, định ra chủ trương, chính sách mới cho phù hợp với tình hình mới.
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (11-1939), đặc biệt là Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5-1941), do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, đã khẳng định nội dung, tư tưởng điều chỉnh chiến lược trong thời kỳ mới. Đường lối của Đảng về cách mạng giải phóng dân tộc đã được bổ sung, phát triển và hoàn chỉnh.
Nội dung chủ yếu của chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng
Thứ nhất, Đảng đã kịp thời điều chỉnh chiến lược, nhằm tập trung giải quyết nhiệm vụ hàng đầu là đánh đổ đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộc.
Trong “Thông cáo cho các đồng chí ở các cấp” ngày 29-9-1939, Trung ương Đảng vạch rõ: “Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng... Tất cả các đồng chí phải thấu hiểu vấn đề dân tộc giải phóng..., gây cho tất cả các tầng lớp dân chúng hiểu biết tinh thần dân tộc giải phóng”.
Trung ương Đảng xác định kẻ thù cụ thể, nguy hiểm nhất của cách mạng Đông Dương không phải là đế quốc và giai cấp địa chủ phong kiến nói chung, mà là chủ nghĩa đế quốc và bọn tay sai phản bội dân tộc.
“Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng, để tranh lấy giải phóng dân tộc”.
“Nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là một nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta”; “trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn phải chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”; “trong giai đoạn hiện tại... nếu không đánh đuổi được Pháp – Nhật thì vận mạng của dân tộc phải chịu kiếp ngựa trâu muôn đời, mà vấn đề ruộng đất cũng không làm sao giải quyết được”.
“Cuộc cách mạng ở Đông Dương là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”.
Thứ hai, sau khi giành độc lập, các dân tộc sống trên bán đảo Đông Dương muốn lập ra một chính phủ liên bang hay đứng riêng thành một quốc gia độc lập tùy ý.
Đối với nước ta, sau khi đánh đuổi Pháp – Nhật sẽ thành lập một chính phủ nhân dân, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm cờ của toàn quốc, Chính phủ do Quốc hội bầu ra.
Thứ ba, liên hiệp tất cả các giai cấp và tầng lớp nhân dân không phân biệt tôn giáo, xu hướng chính trị, đảng phái vào một mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc thật rộng rãi, lấy liên minh công – nông làm cơ sở.
Muốn vậy cần phải vận dụng một phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân.
Trung ương quyết định thành lập “Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh”, gọi tắt là Việt Minh. Đối với các dân tộc Campuchia và Lào, Đảng chủ trương lập “Mặt trận Ai Lao độc lập đồng minh” và “Cao Miên độc lập đồng minh”, để sau đó lập ra Đông Dương độc lập đồng minh.
Còn các tổ chức quần chúng thì lập thành các hội cứu quốc như: công nhân cứu quốc, nông dân cứu quốc, thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, v.v..
Thứ tư, chuyển hướng hình thức đấu tranh, từ đấu tranh công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp đòi quyền lợi dân chủ, dân sinh, sang đấu tranh chính trị bí mật, bất hợp pháp, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là trung tâm của Đảng và nhân dân ta, phải ra sức chuẩn bị lực lượng trong toàn quốc và nhằm đúng vào những điều kiện chủ quan và khách quan thuận lợi, đi từ khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền ở địa phương, tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Ý nghĩa của sự điều chỉnh chiến lược
Từ Hội nghị lần thứ 6 đến Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, sự điều chỉnh chiến lược của Đảng trong thời kỳ mới đã hoàn chỉnh.
Trong hoàn cảnh dân tộc ta một cổ đôi tròng, mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội ta đã phát triển đến độ gay gắt nhất, vấn đề sống còn của các dân tộc Đông Dương đặt ra một cách trực tiếp, quyền lợi dân tộc giải phóng đặt lên cao hơn hết.
Đảng đã có chủ trương thực hiện cho được mục tiêu chủ yếu là độc lập dân tộc, đề ra hàng loạt chủ trương và biện pháp cách mạng đúng đắn, tích cực mở rộng khối đoàn kết dân tộc, tích cực chuẩn bị và tiến lên khởi nghĩa vũ trang, giành chính quyền.
Đường lối đó hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, của các dân tộc ở Đông Dương, có khả năng động viên cả dân tộc đoàn kết đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật.
Sự điều chỉnh chiến lược đúng đắn đó đánh dấu một bước trưởng thành mới của Đảng ta, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Lời giải
1. Hoàn cảnh
Nhật xâm lược Đông Dương. Nhật – Pháp cấu kết với nhau đàn áp phong trào cách mạng Việt Nam. Song, mâu thuẫn giữa chúng ngày càng gay gắt. Bấy giờ, Đảng ta đã dự đoán: nhất định Nhật – Pháp sẽ thôn tính lẫn nhau.
Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Nước Pháp được giải phóng, Chính phủ Đờgôn trở lại Pari. Quân Anh đánh lui quân Nhật ở Miến Điện. Mỹ đổ bộ lên Philippin, khống chế phần đường biển từ Nhật Bản đến Inđônêxia.
Thực dân Pháp theo phái Đờgôn ở Đông Dương ngóc đầu dậy, hoạt động ráo riết, chờ quân Đồng minh vào sẽ lật đổ Nhật để khôi phục quyền thống trị.
Phát xít Nhật đứng trước tình thế thất bại ở Thái Bình Dương nên phải nhanh chóng làm cuộc đảo chính lật đổ Pháp.
Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp từ ngày 9-3-1945 đến 10-3-1945 đã đánh giá tình hình, nhận định thời cơ khởi nghĩa và ra bản Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
2. Nội dung chủ yếu của bản Chỉ thị
Thứ nhất, xác định kẻ thù chính, cụ thể, trước mắt và duy nhất của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật. Thay khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật – Pháp” bằng khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật” và đưa ra khẩu hiệu “thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dương”.
Thứ hai, phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Phải có những hình thức tuyên truyền, đấu tranh phù hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa như: đẩy mạnh tuyên truyền vũ trang, biểu tình, tuần hành, thị uy, bãi công chính trị, phá các kho thóc của Nhật để giải quyết nạn đói, phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, lập chính quyền bộ phận, mở rộng căn cứ địa cách mạng để khi đủ điều kiện sẽ chuyển sang Tổng khởi nghĩa.
Thứ ba, dự đoán thời cơ khởi nghĩa:
-
Quân Đồng minh kéo vào Đông Dương đánh Nhật, Nhật kéo ra mặt trận ngăn cản quân Đồng minh để phía sau sơ hở.
-
Cách mạng Nhật bùng nổ, chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật được thành lập.
-
Nhật bị mất nước như Pháp năm 1940. Quân đội viễn chinh Nhật hoang mang, mất hết tinh thần.
Chỉ thị còn nói rõ không được ỷ lại vào bên ngoài khi tình thế biến chuyển thuận lợi, mà phải dựa vào sức mình là chính.
3. Ý nghĩa lịch sử
Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” thể hiện sự nhận định sáng suốt, kiên quyết và kịp thời của Đảng ta, là kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, của Việt Minh trong cao trào kháng Nhật, cứu nước, thúc đẩy tình thế cách mạng mau chóng chín muồi.
Khi Nhật đầu hàng, mặc dù chưa nhận lệnh của Trung ương Đảng, nhưng do nắm vững nội dung bản Chỉ thị nên nhiều địa phương đã chủ động, sáng tạo, mau lẹ, kịp thời khởi nghĩa từng phần, tiến lên Tổng khởi nghĩa thành công trong những ngày tháng Tám.
Lời giải
I. Ý nghĩa lịch sử
-
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp trong gần một thế kỷ, lật nhào chế độ quân chủ hàng mấy nghìn năm và ách thống trị của phát xít Nhật, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân của nước độc lập, tự do, đứng lên làm chủ vận mệnh của mình.
-
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của lịch sử dân tộc Việt Nam, đưa dân tộc ta bước vào một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
-
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta và nhân dân ta đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin; cung cấp thêm nhiều kinh nghiệm quý cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và giành quyền dân chủ.
-
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã hỗ trợ, thúc đẩy phong trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc trên bán đảo Đông Dương và nhiều nước khác trên thế giới.
II. Nguyên nhân thắng lợi
1. Nguyên nhân khách quan
Cách mạng Tháng Tám nổ ra trong bối cảnh quốc tế rất thuận lợi: kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta là phát xít Nhật đã bị Liên Xô và các lực lượng dân chủ thế giới đánh bại. Bọn Nhật ở Đông Dương và tay sai đã tan rã. Đảng ta đã chớp thời cơ đó, phát động toàn dân nổi dậy Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh chóng.
2. Nguyên nhân chủ quan
-
Cách mạng Tháng Tám là kết quả tổng hợp của 15 năm đấu tranh của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã được rèn luyện qua ba cao trào cách mạng rộng lớn: Cao trào 1930 – 1931, Cao trào 1936 – 1939 và Cao trào vận động giải phóng dân tộc 1939 – 1945. Quần chúng cách mạng đã được Đảng tổ chức, lãnh đạo và rèn luyện bằng thực tiễn đấu tranh, trở thành lực lượng chính trị hùng hậu, có lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt.
-
Cách mạng Tháng Tám thành công là do Đảng ta đã chuẩn bị được lực lượng vĩ đại của toàn dân đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, dựa trên cơ sở liên minh công – nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
-
Đảng ta là người tổ chức và lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám. Đảng có đường lối cách mạng đúng đắn, dày dạn kinh nghiệm đấu tranh, nắm đúng thời cơ và chỉ đạo kiên quyết, khôn khéo, tạo nên sức mạnh tổng hợp áp đảo kẻ thù.
-
Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố chủ yếu nhất, quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
III. Bài học kinh nghiệm
Bài học có ý nghĩa khoa học và thực tiễn chính trị sâu sắc của Cách mạng Tháng Tám là Đảng ta đã không ngừng phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo trong việc phát triển đường lối và tổ chức thực tiễn, mạnh dạn điều chỉnh chiến lược, thay đổi chủ trương cho hợp tình thế, kịp thời nắm bắt sự biến đổi của thời cuộc để tổ chức, lãnh đạo quần chúng tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám còn để lại cho Đảng và nhân dân ta nhiều bài học kinh nghiệm về chỉ đạo chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng, làm phong phú kho tàng lý luận cách mạng:
-
Đảng đã xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là chống đế quốc và chống phong kiến. Hai nhiệm vụ này kết hợp khăng khít với nhau, làm tiền đề cho nhau; song nhiệm vụ chống đế quốc là chủ yếu nhất, là nhiệm vụ hàng đầu, còn nhiệm vụ chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc và được thực hiện dần từng bước. Nhờ vậy, Đảng ta đã tổ chức được lực lượng chính trị rộng lớn mà nòng cốt là khối liên minh công – nông để thực hiện yêu cầu cấp bách của cách mạng là giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.
-
Đảng đã triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù. Xác định kẻ thù nguy hiểm nhất, phân hóa hàng ngũ kẻ thù, tranh thủ mọi lực lượng, tập trung chống kẻ thù nguy hiểm nhất.
-
Đảng ta đã khẳng định con đường duy nhất lật đổ ách thống trị của đế quốc và tay sai, giành chính quyền là con đường cách mạng bạo lực. Đảng đã xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng, trên cơ sở đó từng bước xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang; đã khéo léo kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Trong đó, đấu tranh chính trị của quần chúng có vai trò quyết định, tạo ra ưu thế áp đảo quân thù, giành thắng lợi nhanh gọn.