100 câu bài tập Tư tưởng Hồ Chí Minh (có đáp án) - Phần 2
4.6 50 lượt thi 1 câu hỏi
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
🔥 Học sinh cũng đã học
50+ câu Trắc nghiệm Thiết kế tổ chức (có đáp án) - Phần 2
50+ câu Trắc nghiệm Thiết kế tổ chức (có đáp án) - Phần 1
50+ câu Trắc nghiệm Nguyên lý quản trị (có đáp án) - Phần 2
50+ câu Trắc nghiệm Nguyên lý quản trị (có đáp án) - Phần 1
100+ câu Trắc nghiệm Quản trị quốc tế (có đáp án) - Phần 4
100+ câu Trắc nghiệm Quản trị quốc tế (có đáp án) - Phần 3
100+ câu Trắc nghiệm Quản trị quốc tế (có đáp án) - Phần 2
Danh sách câu hỏi:
Lời giải
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là một chân lý lớn của thời đại, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, không phải chỉ với Việt Nam mà còn có ý nghĩa chung đối với tất cả các dân tộc đang đấu tranh giải phóng và tìm tòi con đường phát triển cho đất nước sau khi giành được độc lập dân tộc. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau.
Độc lập dân tộc là cơ sở, tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh nhận thấy rằng chỉ có con đường duy nhất là làm cách mạng thì mới giành được độc lập cho dân tộc, và làm theo Cách mạng Tháng Mười Nga thì mới đem lại tự do, hạnh phúc cho Nhân dân. Điều đó có nghĩa,
đối với các dân tộc thuộc địa, trong đó có Việt Nam, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trước hết phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc. Để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đi theo con đường xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống lý luận, quan điểm cách mạng làm cơ sở để xác định chiến lược cách mạng khoa học, phù hợp với nhu cầu tiến hóa của dân tộc, theo xu thế của thời đại. Hồ Chí Minh đã xây dựng một hệ thống quan điểm cách mạng, khoa học, toàn diện và sáng tạo mang tầm vóc một học thuyết giải phóng và phát triển vì độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh thuộc về hệ quan điểm lý luận cách mạng của chủ nghĩa cộng sản khoa học - lý luận về giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người, được truyền bá trực tiếp, khoa học và có tổ chức vào Việt Nam dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa xuân 1930 và thông qua Chánh cương vắt tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng... do chính Người soạn thảo, đề ra chủ trương thực hiện chiến lược của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.
Căn cứ vào tình hình xã hội Việt Nam khi thành lập Đảng, theo Hồ Chí Minh cuộc cách mạng này không thực hiện một lúc đánh đế quốc và đánh phong kiến mà kết hợp nhiệm vụ chống đế quốc giải phóng dân tộc với nhiệm vụ chống phong kiến thực hiện khẩu hiệu người cày có ruộng theo phương châm: hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến tiến hành khăng khít nhưng không song song nhất loạt ngang nhau. Nhiệm vụ chống phong kiến rải ra mà làm, nhằm phục vụ nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản không phải qua hai cuộc cách mạng chính trị với mục tiêu, đối tượng và lực lượng khác nhau như phải trải qua hai lần giành chính quyền giống cách mạng Nga (Cách mạng Tháng Hai và Cách mạng Tháng Mười); cũng không phải hai lần giải phóng như cách mạng Trung Quốc: giải phóng dân tộc khỏi ách phát xít Nhật (tháng 8/1945) rồi đến giải phóng công nông, giành chính quyền về tay công nông (tháng 10/1949). Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản mà Hồ Chí Minh đề ra mang tính chất một cuộc cách mạng không ngừng, kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ giải phóng dân tộc với nhiệm vụ dân chủ cũng như kết hợp nhiệm vụ dân tộc, dân chủ với sự nghiệp xây dựng đất nước theo con đường đi dần lên chủ nghĩa xã hội.
Sau khi chính quyền đã về tay Nhân dân, thiết lập chế độ dân chủ nhân dân ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Trên nền tảng liên minh công nông và trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Nhà nước dân chủ nhân dân thực hiện từng bước cải cách kinh tế, văn hóa và xã hội phục vụ quốc kế dân sinh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân trước hết là nhân dân lao động, thực hiện từng bước nhiệm vụ giải phóng dân tộc về mặt kinh tế, bảo đảm đất nước độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ cả về chính trị lẫn kinh tế để đi lên chủ nghĩa xã hội. Như vậy, trong giải phóng dân tộc đã bao hàm giải phóng giai cấp, xã hội và giải phóng con người. Việc đề cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, kết hợp từng bước với nhiệm vụ dân chủ và xã hội chủ nghĩa là biểu hiện sâu sắc, triệt để và đúng đắn nhất lập trường cách mạng của Hồ Chí Minh. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ cơ bản chống đế quốc và chống phong kiến bảo đảm cho cách mạng Việt Nam kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh giai cấp, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm hoàn thành thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc.
-> Điểm mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh là ở chỗ, toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam là một cuộc cách mạng trải qua nhiều giai đoạn mà mỗi giai đoạn ứng với một nhiệm vụ nhất định của tiến trình phát triển. Nhiệm vụ giai đoạn trước hoàn thành tạo tiền đề cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của giai đoạn sau. Cho nên, giữa các giai đoạn của cuộc cách mạng không có bức tường ngăn cách, không làm thay đổi trật tự bố trí, sắp xếp các lực lượng cách mạng mà chỉ tạo điều kiên cho các lực lượng được cách mạng hóa cho phù hợp với từng bước phát triển.
Chủ nghĩa xã hội là điều kiện vững chắc để bảo đảm nền độc lập dân tộc
Hồ Chí Minh đã làm nổi bật tư tưởng về mối quan hê giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp vô sản, về sự gắn liền cuộc cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản trong thời đại ngày nay, về con đường đảm bảo chắc chắn cho độc lập dân tộc chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản, là sự nghiêp của chủ nghĩa xã hội. Trong bài Đông Dương - cuộc kháng chiến (1923 - 1924), Người viết: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiêp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”. Con đường ấy, ngay từ buổi đầu được Người lựa chọn đã đặt cách mạng Viêt Nam vào sự vận động của phong trào cách mạng thế giới, là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới. Khẳng định sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa đối với Hồ Chí Minh chính là sự lựa chọn con đường giải phóng dân tộc một cách triêt để nhất, đưa cách mạng Viêt Nam sau khi hoàn thành nhiêm vụ giải phóng dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Sau khi xác định con đường giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh luôn chủ trương gắn chặt cách mạng dân tộc dân chủ với cách mạng xã hội chủ nghĩa, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Người coi chủ nghĩa xã hội vừa là phương tiện, là con đường, lại vừa là mục tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Trong Truyền đơn cổ động mua báo Le Paria đầu năm 1923, Hồ Chí Minh viết: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc...”. Hồ Chí Minh chưa bao giờ coi chủ nghĩa xã hội là điểm xuất phát mà chỉ là một sự gặp gỡ trong hành trình cứu nước, giải phóng dân tộc. Sự gặp gỡ ấy đã mở ra cho Người con đường đúng đắn để đạt tới mục tiêu của mình. Người viết: “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh cho rằng, chủ nghĩa xã hội trước hết là một chế độ dân chủ, do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Chế độ dân chủ thể hiện trong tất cả các mặt của đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... và được thể chế hóa bằng Hiến pháp và pháp luật. Đây là điều kiện quan trọng nhất để bảo đảm nền độc lập dân tộc, tạo ra nền tảng ý thức xã hội bảo vệ chủ quyền dân tộc, kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu thôn tính, đe dọa nền độc lập, tự do của dân tộc. Chủ nghĩa xã hội được lựa chọn như một con đường để thực hiện mục tiêu của cách mạng Việt Nam: độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, chủ nghĩa xã hội không phải là mục tiêu tự nó. Nó chỉ tồn tại với tính cách là mục tiêu khi nó là cái cần thiết để đạt một mục tiêu cao hơn, bao trùm hơn là đem lại cuộc sống, tự do và hạnh phúc cho mọi người. Đặt cách mạng giải phóng dân tộc nằm trong phạm trù cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội đã khiến quan điểm giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh mang tính toàn diện và triệt để. Nó vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản, vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp và giải phóng con người.
* Đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã tìm ra con đường phát triển mang tính đặc thù - đó là con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước thuộc địa nửa phong kiến. Cách thức phát triển này cho phép giải quyết một cách triệt để mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp của xã hội Việt Nam vào đầu thế kỷ XX. Qua đó cho thấy, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội phản ánh sự lựa chọn khách quan của chính thực tiễn
- lịch sử dân tộc mang đậm tính đặc thù của Việt Nam đã được khẳng định. Với mục tiêu xác định, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, kết hợp với sự ủng hộ giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần của nước xã hội chủ nghĩa, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành độc lập, tự do cho dân tộc, đưa đất nước thống nhất và bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhờ nhận thức rõ mỗi quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên phương diện kinh tế, nên qua 35 năm đổi mới, vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và sự lãnh đạo đúng đắn của Ðảng, sự nỗ lực phấn đấu, chung sức đồng lòng của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân và sự giúp đỡ, hợp tác của cộng đồng quốc tế, nhân dân ta đã đạt được “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới”, tạo ra thế và lực mới để đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp. Những thành tựu về đổi mới cho chúng ta niềm tin về sự lựa chọn đúng đắn của mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: “Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020, đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD. Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020, đạt trên 540 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỷ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỷ USD vào năm 2020. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỷ USD vào cuối năm 2020.