56 câu bài tập Đường lối quân sự của Đảng (có đáp án) - Phần 1
4.6 0 lượt thi 31 câu hỏi
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
🔥 Học sinh cũng đã học
100 câu bài tập Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam (có đáp án) - Phần 7
100 câu bài tập Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam (có đáp án) - Phần 6
100 câu bài tập Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam (có đáp án) - Phần 5
100 câu bài tập Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam (có đáp án) - Phần 4
100 câu bài tập Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam (có đáp án) - Phần 3
100 câu bài tập Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam (có đáp án) - Phần 2
100 câu bài tập Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam (có đáp án) - Phần 1
122 câu bài tập Tư tưởng Hồ Chí Minh (có đáp án) - Phần 5
Danh sách câu hỏi:
Lời giải
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh
Hồ Chí Minh đã sớm đánh giá đúng đắn bản chất, quy luật của chiến tranh và tác động của chiến tranh đến đời sống xã hội.
Bản chất của chủ nghĩa đế quốc: được khái quát bằng hình ảnh “con đỉa hai vòi”, một vòi hút máu nhân dân lao động chính quốc, một vòi hút máu nhân dân lao động thuộc địa.
Trong Hội nghị Véc-xây, Người đã vạch trần bản chất, bộ mặt thật của thực dân Pháp: “Người Pháp khai hóa văn minh bằng rượu lậu, thuốc phiện”.
Như vậy, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, cuộc chiến tranh do thực dân Pháp tiến hành ở nước ta là cuộc chiến tranh xâm lược. Ngược lại, cuộc chiến tranh của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược là cuộc chiến tranh nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền và thống nhất đất nước.
Xác định tính chất xã hội của chiến tranh, phân tích tính chất chính trị - xã hội của chiến tranh xâm lược thuộc địa, chiến tranh ăn cướp của chủ nghĩa đế quốc, chỉ ra tính chất chính nghĩa của chiến tranh giải phóng dân tộc.
Tính chất xã hội của chiến tranh: chiến tranh xâm lược là phi nghĩa, chiến tranh chống xâm lược là chính nghĩa.
Thái độ của chúng ta: ủng hộ chiến tranh chính nghĩa, phản đối chiến tranh phi nghĩa.
Kế thừa và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về bạo lực cách mạng, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào chiến tranh cách mạng Việt Nam, khẳng định phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền.
Hồ Chí Minh khẳng định: Ngày nay, chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta là chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Con người là nhân tố quyết định thắng lợi của chiến tranh. Người chủ trương phải dựa vào dân, coi dân làm gốc, là cội nguồn sức mạnh.
Đánh giặc phải bằng sức mạnh của toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt. Kháng chiến toàn dân phải đi đôi với kháng chiến toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, đánh địch trên tất cả các mặt trận.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quân đội
Khẳng định sự ra đời của quân đội là một tất yếu, là vấn đề có tính quy luật trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc ở Việt Nam.
Mối quan hệ biện chứng giữa sự ra đời của quân đội với sự nghiệp giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc.
Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội ta hiện nay - được thành lập.
Sự ra đời của quân đội xuất phát từ chính yêu cầu của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp.
Muốn giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng.
Quân đội nhân dân Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân.
Bản chất giai cấp công nhân liên hệ mật thiết với tính nhân dân trong tiến hành chiến tranh nhân dân chống thực dân, đế quốc xâm lược.
Phẩm chất cách mạng và bản lĩnh chính trị là cơ sở, nền tảng để xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện.
Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, kế thừa các truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Quân đội ta là quân đội kiểu mới, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.
Khẳng định quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.
Bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân của quân đội ta là một thể thống nhất, là biểu hiện của tính quy luật của quá trình hình thành, phát triển quân đội kiểu mới, quân đội của giai cấp vô sản.
Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội là một nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới, quân đội của giai cấp vô sản.
Nhiệm vụ và chức năng của quân đội
Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu: thực hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc: gắn giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội.
Nhiệm vụ:
Xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu.
Thiết thực tham gia lao động sản xuất, góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Nhiệm vụ hiện nay: luôn luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Chức năng: là đội quân chiến đấu; là đội quân công tác; là đội quân sản xuất.
Lời giải
Khái niệm
Quốc phòng toàn dân là nền quốc phòng mang tính chất “vì dân, do dân, của dân”; phát triển theo hướng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại, kết hợp chặt chẽ với kinh tế quốc phòng và an ninh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, do nhân dân làm chủ nhằm giữ vững hòa bình, ổn định của đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi hành động xâm lược và bạo loạn lật đổ của các thế lực đế quốc, phản động; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Nền quốc phòng toàn dân là sức mạnh quốc phòng của đất nước được xây dựng trên nền tảng nhân lực, vật lực, tinh thần mang tính chất toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường.
An ninh nhân dân là sự nghiệp của toàn dân, do nhân dân tiến hành, lực lượng an ninh nhân dân làm nòng cốt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Kết hợp phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc với các biện pháp nghiệp vụ của lực lượng chuyên trách, nhằm đập tan mọi âm mưu và hành động xâm phạm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, cùng với quốc phòng toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Mục đích
Tạo sức mạnh tổng hợp của đất nước cả về chính trị, quân sự, an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ để giữ vững hòa bình, ổn định, đẩy lùi, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức và quy mô.
Tạo thế chủ động cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa, xã hội; giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhiệm vụ
Xây dựng lực lượng quốc phòng, an ninh đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tiếp tục xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Củng cố, hoàn thiện thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân.
Xây dựng cơ quan nội chính trong sạch, vững mạnh.
Trách nhiệm của bản thân
Tích cực học tập, nâng cao trình độ hiểu biết về mọi mặt, nắm vững kiến thức quốc phòng, an ninh.
Nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.
Tự giác, tích cực rèn luyện các kỹ năng quân sự, an ninh.
Chủ động tham gia các hoạt động về quốc phòng, an ninh do nhà trường, xã, phường, thị trấn triển khai.
Lời giải
Nội dung xây dựng LLDBĐV hiện nay
Phương thức chung: Địa phương chuyển giao nguồn cho các đơn vị chủ lực hình thành các đơn vị dự bị động viên theo nhiệm vụ, trong đó địa phương thực hiện là chính (trừ huấn luyện và vũ khí trang bị), các đơn vị chủ lực nhận nguồn phối hợp cùng địa phương tổchức thực hiện. Phương thức tổ chức đơn vị dự bị động viên: Đơn vị biên chế và không biênchế khung thường trực.
Nội dung xây dựng cụ thể (4 vấn đề lớn):Một là Tạo nguồn, đăng kí, quản lí lực lượng dự bị động viên:
+ Tạo nguồn: Là cơ sở quan trọng nhất để lập kế hoạch và huy động lực lượng dự bị động viên. Quân nhân dự bị: thường chọn những người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự hoặc chuyển ngành từ Quân đội ra mà còn nằm trong độ tuổi và đủ tiêu chuẩn. Phương tiện kỹ thuật dự bị: lựa chọn trong nền kinh tế theo yêu cầu nhiệm vụ
+ Đăng kí quản lí lực lượng dự bị động viên: Việc đăng kí, quản lí lực lượng dự bịđộng viên phải có kế hoạch thường xuyên, chặt chẽ và chính xác theo độ tuổi, sức khoẻ , hoàn cảnh gia đình, trình độ văn hóa và hiểu biết về quân sự, chuyên môn nghiệp vụ, nhận thức về chính trị… Đối với phương tiện kỹ thuật, phải đăng kí, quản lí chính xác cả sốlượng, chất lượng, tình trạng kỹ thuật của từng phương tiện.
+Hai là Tổ chức, biên chế đơn vị dự bị động viên : Theo mẫu biểu của BQP, thường tổ chức thành đơn vị có và không có khônng thườngtrực, đơn vị chuyên môn thời chiến biên chế đủ hoặc thiếu…Khi sắp xếp quân nhân dự bịvào các đơn vị dự bị phải theo nguyên tắc người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ phù hợpvới chức danh biên chế, nếu thiếu thì sắp xếp người có trình độ chuyên môn tương ứng.Sắp xếp hết quân nhân dự bị hạng 1 đến hạng 2. Sắp xếp những quân nhân dự bị cư trú gần nhau vào cùng đơn vị.
+Ba là Giáo dục chính trị, huấn luyện diễn tập, kiểm tra đơn vị dự bị động viên:
+ Giáo dục chính trị: Là nhiệm vụ hàng đầu trong xây dựng lực lượng dự bị động viên nhằm nâng cao nhận thức chính trị tư tưởng vững vàng, kiên định mục tiêu lí tưởng. Nội dung giáo dục cần tập trung vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quan điểm quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc ta. Giáo dục thường xuyên liên tục cho tất cả các đối tượng, xen kẽ trong từng giai đoạn, từng đợt huấn luyện, diễn tập.
+ Huấn luyện: Theo phương châm “Chất lượng, thiết thực, hiệu quả, tập trung có trọng tâm, trọng điểm”. Nội dung toàn diện, phương pháp thích hợp sát đối tượng, sát thực tế
+ Kiểm tra: Cùng với huấn luyện, diễn tập, chế độ kiểm tra thực hiện nhiệm vụ đượctiến hành theo quy định nhằm giúp lãnh đạo, chỉ huy nắm đư¬ợc thực trạng tổ chức, xâydựng lực lượng dự bị động viên để có chủ trư¬ơng, biện pháp sát đúng.
+Bốn là Bảo đảm hậu cần, kĩ thuật, tài chính cho xây dựng lực lượng dự bị động viên
Vũ khí trang bị kỹ thuật, vật chất, kinh phí …là yếu tố rất quan trọng để xây dựng lực lượng dự bị động viên. Yêu cầu phải bảo đảm đúng mức, đủ để triển khai xây dựng lực lượng dự bị động viên chất lượng ngày càng cao.Việc bảo đảm hàng năm do Chính phủ giao chỉ tiêu nhiệm vụ cụ thể cho các bộ nghành, địa phương thực hiện.
Một số biện pháp xây dựng LLDBĐV trong tình hình hiện nay (4 biện pháp):
- Thường xuyên giáo dục sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về vị trí, nhiệm vụ, quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với xây dựng LLDBĐV.
Thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự và các cơquan chức năng làm tham mưu và tổ chức thực hiện.
Thường xuyên củng cố, kiện toàn, bồi dưỡng cơ quan và đội ngũ cán bộ làm côngtác xây dựng LLDBĐV.
Thực hiện tốt các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với LLDBĐV.
Lời giải
Khái niệm: LLVTND là các tổ chức vũ trang và bán vũ trang của Nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quản lý.
Nhiệm vụ:
-
Chiến đấu giành và giữ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
-
Bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ chế độ XHCN và những thành quả cách mạng.
-
Cùng toàn dân xây dựng đất nước.
-
Là lực lượng xung kích trong khởi nghĩa toàn dân giành chính quyền, là lực lượng nòng cốt của quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và chiến tranh nhân dân.
Thành phần:
LLVTND bao gồm Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân Tự vệ.
Những quan điểm, nguyên tắc cơ bản xây dựng LLVTND trong thời kỳ mới (4 quan điểm, nguyên tắc):
- Một là: Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lực lượng vũ trang nhân dân.
Ý nghĩa: Đây là quan điểm, nguyên tắc cơ bản nhất trong xây dựng LLVTND. Sự lãnh đạo của Đảng quyết định bản chất cách mạng, mục tiêu, phương hướng chiến đấu, đường lối tổ chức và cơ chế hoạt động của LLVTND, bảo đảm cho Đảng nắm chắc quân đội và công an trong mọi tình huống.
Nội dung: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo LLVTND theo nguyên tắc “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”: Đảng CSVN là chủ thể duy nhất, độc tôn lãnh đạo LLVTND. Đảng không chia sẻ quyền lãnh đạo đó cho bất kỳ giai cấp, tổ chức, đảng phái hay cá nhân nào khác. Sự lãnh đạo của Đảng đối với LLVTND là trực tiếp, không thông qua một khâu trung gian, một tổ chức trung gian nào. Đảng lãnh đạo mọi tổ chức, mọi lực lượng, mọi đơn vị trong LLVT; trên tất cả các lĩnh vực hoạt động; trên tất cả các mặt công tác; trong tất cả các nhiệm vụ.
- Hai là: Tự lực, tự cường xây dựng lực lượng vũ trang.
Cơ sở: Quan điểm, nguyên tắc này xuất phát từ truyền thống, kinh nghiệm trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta qua mấy ngàn năm lịch sử; xuất phát từ tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây dựng LLVT và xuất phát từ thực tiễn xây dựng LLVTND Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng.
Nội dung:
-
Tự lực, tự cường dựa vào sức mình để xây dựng, để giữ vững tính độc lập, tự chủ, chủ động, không bị chi phối, ràng buộc.
-
Nâng cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn, xây dựng đơn vị LLVTND vững mạnh toàn diện.
-
Triệt để tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi về khoa học - công nghệ để xây dựng và phát triển LLVTND.
-
Tập trung từng bước hiện đại hóa trang bị kỹ thuật, quản lý, khai thác, bảo quản có hiệu quả vũ khí, trang bị hiện có...
-
Tích cực đẩy mạnh phát triển kinh tế và thực hành tiết kiệm.
- Ba là: Xây dựng LLVTND lấy chất lượng là chính, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở.
Cơ sở: Quan điểm, nguyên tắc này xuất phát từ lý luận Mác - Lênin về mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng. Xuất phát từ truyền thống xây dựng LLVT của ông cha ta “binh quý hồ tinh, bất quý hồ đa”. Từ đòi hỏi, yêu cầu cao của nhiệm vụ đối với LLVTND trong thời kỳ mới. Từ thực tiễn xây dựng LLVTND, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng chất lượng, lấy chất lượng chính trị làm cơ sở... Do đó, LLVTND của ta luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Đồng thời, xuất phát từ sự chống phá của kẻ thù trong chiến lược “DBHB”, BLLĐ nhằm phi chính trị hóa LLVTND, trước hết là quân đội, công an.
Nội dung:
-
Nắm vững và giải quyết tốt mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng:
Nâng cao chất lượng là chính, đồng thời có số lượng phù hợp với tình hình nhiệm vụ và khả năng kinh tế của đất nước;
Phải có cơ cấu hợp lý giữa các thứ quân, giữa lực lượng thường trực với lực lượng dự bị động viên;
Thường xuyên làm tốt công tác huấn luyện, diễn tập để nâng cao trình độ SSCĐ của LLVTND.
-
Xây dựng LLVTND có chất lượng toàn diện cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức:
Phải thường xuyên làm tốt công tác quán triệt, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ trong LLVTND tin tưởng vào đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước. Tin tưởng tuyệt đối, tự giác chấp hành nghiêm mọi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật;
Chăm lo xây dựng, củng cố các tổ chức chính trị trong LLVTND vững mạnh (tổ chức đảng, các tổ chức quần chúng, Hội đồng quân nhân...);
Chăm lo xây dựng cơ quan chính trị vững mạnh, đội ngũ cán bộ chính trị, đảng viên có phẩm chất, năng lực tốt, đủ sức lãnh đạo đơn vị.
- Bốn là: Bảo đảm LLVTND luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi.
Ý nghĩa: Đây là quan điểm phản ánh chức năng, nhiệm vụ chủ yếu, cơ bản, thường xuyên của LLVTND, có ý nghĩa quan trọng bảo đảm cho LLVTND chủ động đối phó kịp thời và thắng lợi trong mọi tình huống có thể xảy ra.
Nội dung:
LLVTND phải luôn trong tư thế SSCĐ, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống.
Xây dựng LLVTND vững mạnh về mọi mặt, duy trì và chấp hành nghiêm các chế độ, quy định về sẵn sàng chiến đấu, trực ban, trực chiến, trực chỉ huy...
Liên hệ
Mỗi chúng ta để làm tốt điều này thì phải coi đây là một nghĩa vụ thiêng liêng, cao quý của mỗi công dân. Từ đó, chúng ta sẽ ý thức được trách nhiệm của thanh niên, học sinh hiện nay là:
Tích cực học tập, rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khỏe.
Trung thành với Tổ quốc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, cảnh giác trước âm mưu chia rẽ, xuyên tạc của các thế lực thù địch; phê phán, đấu tranh với những thái độ, việc làm gây tổn hại đến an ninh quốc gia, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Tích cực tham gia các hoạt động an ninh, quốc phòng ở địa phương; tham gia hoạt động đền ơn đáp nghĩa…
Tham gia đăng ký, tham gia huấn luyện nghĩa vụ quân sự khi đến tuổi; sẵn sàng lên đường làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.
Vận động bạn bè, người thân thực hiện tốt nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Mỗi con người sinh ra đều mang trong mình một sứ mệnh riêng, nhưng hơn tất cả, sứ mệnh chung của chúng ta, đặc biệt là giới trẻ, thì trách nhiệm đối với đất nước là một sứ mệnh vô cùng quan trọng. Vậy trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương, đất nước là gì? Trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương, đất nước là trách nhiệm giữ gìn nền độc lập, tích cực xây dựng nước nhà ngày càng vững mạnh.
Mỗi chúng ta khi sinh ra được sống trong nền hòa bình đã là một sự may mắn, chính vì vậy chúng ta cần phải cống hiến nhiều hơn để phát triển nước nhà vững mạnh, có thể chống lại mọi kẻ thù. Mỗi người khi học tập, lao động, tạo lập cho mình một cuộc sống tốt đẹp cũng chính là cống hiến cho Tổ quốc. Bên cạnh đó, mỗi chúng ta cần phải yêu thương, giúp đỡ đồng bào, đoàn kết với mọi người vì điều đó không chỉ giúp cho chúng ta được yêu thương, trân trọng mà còn thể hiện sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.
Lời giải
Quốc gia: Là thực thể pháp lí bao gồm ba yếu tố cấu thành: Lãnh thổ, Dân cư và Quyền lực công cộng. Quốc gia là chủ thể căn bản nhất của luật pháp quốc tế. Chủ quyền quốc gia là đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất của quốc gia. Theo luật pháp quốc tế hiện đại,tất cả các quốc gia đều bình đẳng về chủ quyền.
+Lãnh thổ quốc gia: Là phạm vi không gian được giới hạn bởi biên giới quốc gia,thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của một quốc gia. Việt Nam là một quốc gia độc lập cóchủ quyền. Lãnh thổ quốc gia Việt Nam là một chỉnh thể thống nhất, bất khả xâm phạm.Lãnh thổ quốc gia Việt Nam bao gồm: Vùng đất quốc gia (kể cả các đảo và quần đảo); Vùngbiển quốc gia; Vùng trời quốc gia; Lãnh thổ quốc gia đặc biệt.
+Vùng đất quốc gia: Là phần mặt đất và lòng đất của đất liền (lục địa), của đảo, quần đảo thuộc chủ quyền một quốc gia; bộ phận quan trọng nhất cấu thành nên lãnh thổ quốc gia,làm cơ sở để xác định vùng trời quốc gia, vùng biển quốc gia. Việt Nam là một quốc gia venbiển nằm trên bán đảo Đông Dương, ven biển Thái Bình Dương, có vùng đất quốc gia vừa làđất liền, vừa là đảo, vừa là quần đảo, (diện tích đất liền khoảng 331.689 km2, từ đỉnh Lũng Cú đến mũi Cà Mau; hơn 3.000 đảo lớn, nhỏ ... 12 huyện đảo, trong đó có 2 huyện đảo (quầnđảo) xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa.)
Vùng biển quốc gia: Việt Nam có ba mặt trông ra biển (Đông, Nam và Tây Nam), vớibờ biển dài 3.260 km, từ Móng Cái đến Hà Tiên. Phần Biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam mở rộng về phía Đông và Đông Nam. Diện tích biển của Việt Nam khoảng 1 triệu km2
+ Vùng biển quốc gia (thuộc lãnh thổ Việt Nam) gồm có Nội thủy và Lãnh hải:Nội thuỷ là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở, bao gồm Các vùng nước phía trong đường cơ sở và Vùng nước cảng. Nội thủy có chế độ pháp lí như đất liền (có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ).Lãnh hải của Việt Nam rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía ngoài. Lãnh hải của ViệtNam bao gồm lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần đảo. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam. Lãnh hải có chế độ pháp lí như đấtliền (có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ). Tuy nhiên, theo quy định của luật pháp quốc tế,trong lãnh hải Việt Nam, tàu thuyền các quốc gia khác được hưởng quyền qua lại không gây hại và đi theo tuyến phân luồng giao thông biển của Việt Nam.
+ Vùng biển quốc gia :(thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam) gồm có Vùng tiếp giáp lãnh hải, Vùng đặc quyền về kinh tế và Thềm lục địa:
+ Vùng tiếp giáp lãnh hải: là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải (đường biên giới quốc gia trên biển).
+ Vùng đặc quyền kinh tế: là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp vớilãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở.+ Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hảiViệt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, các đảo và quần đảo củaViệt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa. Thềm lục địa của Việt Nam có chiều rộng từ 200 đến không quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở.
+Vùng trời quốc gia: Là khoảng không gian phía trên lãnh thổ quốc gia, thuộc chủ quyền hoàn toàn của Việt Nam.
+Lãnh thổ quốc gia đặc biệt: Là loại lãnh thổ đặc thù của một quốc gia tồn tại hợp pháp trong lãnh thổ một quốc gia khác hoặc trên vùng biển, vùng trời quốc tế. Lãnh thổ quốc gia đặc biệt của Việt Nam như trụ sở làm việc và nơi ở của các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài
+Chủ quyền quốc gia: Là quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và đầy đủ về mọimặt lập pháp, hành pháp và tư pháp của một quốc gia. Tất cả các nước, không tính đến quymô lãnh thổ, dân số, chế độ xã hội, đều có chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia là đặctrưng chính trị và pháp lí thiết yếu của một quốc gia độc lập, được thể hiện trong hoạt độngcủa các cơ quan nhà nước và trong hệ thống pháp luật quốc gia. Tôn trọng chủ quyền quốcgia là một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Hiến chương Liên hợp quốc khẳng địnhnguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia; không một quốc gia nào được can thiệp hoặc khống chế, xâm phạm chủ quyền của một quốc gia khác.
Chủ quyền lãnh thổ quốc gia: Là một bộ phận của chủ quyền quốc gia, khẳng địnhquyền làm chủ của quốc gia trên vùng lãnh thổ của mình. Mỗi nước có toàn quyền định đoạtmọi việc trên lãnh thổ của mình, không được xâm phạm lãnh thổ và can thiệp vào công việcnội bộ của các quốc gia khác. Chủ quyền lãnh thổ quốc gia dừng lại ở biên giới quốc gia;mọi tư tưởng và hành động thể hiện chủ quyền quốc gia vượt quá biên giới quốc gia củamình đều là hành động xâm phạm chủ quyền của các quốc gia khác và trái với công ước quốc tế. Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là tuyệt đối, bất khả xâm phạm; tôn trọng chủ quyềnlãnh thổ quốc gia là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ và luật pháp quốc tế.Xây dựng chủ quyền lãnh thổ quốc gia: Là thực hiện tổng thể các giải pháp, biệnpháp trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại và QP,AN nhằm thiết lậpvà bảo đảm quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và đầy đủ về mọi mặt lập pháp, hànhpháp và tư pháp của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ, bao gồm vùng đất, vùng trời, vùng biển và lãnh thổ đặc biệt của quốc gia.Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia: Là sử dụng tổng hợp các lực lượng và biệnpháp chống lại sự xâm phạm, phá hoại dưới mọi hình thức để giữ gìn toàn vẹn chủ quyềnnhà nước đối với lãnh thổ quốc gia.Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là yêu cầu tất yếu, là nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia trong tình hình hiện nay cần thực hiện tốt 4 nội dung sau:
Một là Xây dựng, phát triển mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại và quốc phòng, an ninh của đất nước.
Hai là Xác lập và bảo vệ quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của Việt Nam trên mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong phạm vi lãnh thổ của mình.
Ba là Bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bao gồm vùng đất, vùng trời, nội thuỷ, lãnh hải và lãnh thổ đặc biệt của Việt Nam; Đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại, vi phạm chủ quyền, xâm phạm lãnh thổ của Việt Nam.
Bốn là Bảo vệ sự thống nhất lãnh thổ của đất nước, thống nhất về quyền lập pháp,hành pháp và tư pháp trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Đấu tranh làm thất bại mọi hành động chia cắt lãnh thổ Việt Nam; mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch cả trong và ngoàinước hòng phá hoại quyền lực tối cao của Việt Nam.
Các nội dung xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia gắn bó chặt chẽ với nhau và đặt trong tổng thể chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới mà Đảng ta đã xác định. Làm tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là trực tiếp góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Là Sinh viên chúng ta cần làm các điều sau để bảo vệ tổ quốc VN XHCN Cụ thể:
-Phát hiện và mạnh dạn đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực ảnh hưởng đến an ninh trật tự của địa phương. Nhằm phát huy được những mặt tích cực, hạn chế những tồn tại nhược điểm của sinh viên, đóng góp tích cực cho công tác bảo vệ an ninh trật tự của địa phương, mỗi cá nhân phải học tập, rèn luyện tốt, tu dưỡng phẩm chất đạo đức của người sinh viên, kính trọng thầy, cô giáo, tôn trọng các cơ quan chính quyền, tích cực tham gia các phong trào của địa phương
-Bảo vệ an ninh trật tự của cách vùng biên giới nơi cư trú, chống hành vi xâm phạm chủ quyền biên giới
-Nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.
-Tự giác, tích cực luyện tập các kĩ năng quân sự, an ninh và chủ động tham gia các hoạt động về quốc phòng-an ninh do nhà trường, xã, phường, địa phương tổ chức.
Sinh viên phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ nhận thức về mọi mặt, hiểu biết sâu sắc về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ; từ đó xây dựng, củng cố lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí tự chủ, tự lập, tự cường, nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Thấy rõ ý nghĩa thiêng liêng, cao quý và bất khả xâm phạm về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ; xác định rõ vinh dự và trách nhiệm của công dân trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thực hiện tốt chương trình môn học Giáo dục quốc phòng – an ninh đối với sinh viên các trường đại học, cao đẳng ; hoàn thành tốt các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong thời gian học tập tại trường. Sau khi tốt nghiệp, sẵn sàng tự nguyện, tự giác tham gia quân đội nhân dân, công an nhân dân khi Nhà nước yêu cầu. Tình nguyện tham gia xây dựng và phục vụ lâu dài tại các khu kinh tế – quốc phòng, góp phần xây dựng khu vực biên giới, hải đảo vững mạnh, phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, thực hiện nghiêm chỉnh Luật Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sinh viên đang học tại các trường đại học, cao đẳng cần nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia đối với sự toàn vẹn, thống nhất lãnh thổ ; quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với việc xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Trên cơ sở đó, nâng cao ý thức, trách nhiệm công dân, học tập tốt, thực hiện tốt các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
– Tham gia đăng kí tham gia huấn luyện nghĩa vụ quân sự khi đến tuổi; sẵn sàng lên đường làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.
Lời giải
+Khái niệm: Kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường, củng cố QP - AN ở nước ta là hoạt động tích cực, chủ động của Nhà nước và Nhân dân trong việc gắn kết chặt chẽ hoạt động KT - XH,QP - AN trong một chỉnh thể thống nhất trên phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương,thúc đẩy nhau cùng phát triển, góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
+Mục đích của sự kết hợp: Là tạo ra sức mạnh tổng hợp để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa.Thực chất của sự kết hợp:Là gắn kết giữa kinh tế xã hội với quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong một chỉnh thểthống nhất.
+Tính chất của sự kết hợp: Là hoạt động chủ quan của Đảng, Nhà nước trên cơ sở nắm bắt đúng quy luật khách quan.Quan điểm của Đảng ta :Để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, chúng ta phải kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường, củng cố QP - AN trong một chỉnh thể thống nhất. Quan điểm trên là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, có cơ sở lí luận và thực tiễn.
+Về cơ sở lý luận: Xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế xã hội với tăng cường , củng cố quốc phòng an ninh. Kinh tế và quốc phòng an ninh là những lĩnh vực khác nhau nhưng có mối quan, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, kinh tế là cơ sở vật chất, suy đến cùng quyết định quốc phòng an ninh; ngược lại quốc phòng an ninh có sự tác động tích cực trở lại kinh tế, bảo vệ và tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển: Cụ thể:
- KT là cơ sở vật chất, suy cho cùng quyết định QP, AN. Cụ thể:
+ KT quyết định nguồn gốc ra đời, sức mạnh của QP, AN. Lợi ích KT suy đến cùng là nguyên nhân làm nảy sinh các mâu thuẫn, xung đột XH. Để giải quyết mâu thuẫn đó, phải có hoạt động QP, AN.
+ Bản chất của chế độ KT quyết định đến bản chất nền QP, AN. Xây dựng QP, AN để tự vệ,giữ nước, chính nghĩa là do bản chất của chế độ XHCN quy định. Tăng cường sức mạnh QPAN vì mục đích bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản để thực hiện răn đe, can thiệp hay chiến tranh xâm lược là do bản chất của chế độ kinh tế TBCN quyết định.
+ KT quyết định việc cung cấp CSVC-KT, nhân lực cho hoạt động QP, AN.
+ KT quyết định đến việc cung cấp số lượng, chất lượng nguồn nhân lực cho QP, AN, qua đó KT quyết định đến tổ chức biên chế của LLVT, quyết định đến đường lối chiến lược QP, ANĐể xây dựng QPAN vững mạnh phải xây dựng, phát triển kinh tế.
- QP - AN tác động trở lại với KT - XH trên cả góc độ tích cực và tiêu cực. Cụ thể:
Mặt tích cực:
+ QP,AN vững mạnh để duy trì và bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, lâu dài đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển KT, XH.
+ Hoạt động QP, AN tro ng thời bình, ở mức độ nhất định cũng có tác dụng kinh tế, xã hộiphát triển.
+ Quá trình tiêu dùng cho QP, AN, đặt ra cho nền KT phải sản xuất ra sản phẩm hoặc thông qua mở rộng kinh tế đối ngoại để đáp ứng nhu cầu của nó.Đây là những mặt tích cực, thống nhất giữa KT và QP, AN.
Mặt tiêu cực:
+ Hoạt động QPAN tiêu tốn đáng kể một phần nguồn nhân lực, vật lực, tài chính của xa hội.Ảnh hưởng đến tiêu dùng của XH, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền KT.
+ Hoạt động QP, AN ảnh hưởng đến đường lối phát triển KT, cơ cấu kinh tế.
+ Hoạt động QP, AN còn có thể dẫn đến hủy hoại môi trường sinh thái, để lại hậu quả nặngnề cho KT, nhất là khi chiến tranh xảy ra.Đây là những mặt tiêu cực, mâu thuẫn giữa phát triển KT, XH với tăng cường củng cố QP, AN
Giữa phát triển KT- XH với tăng cường củng cố QP – AN có mối quan hệ chặt chẽ vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau. Kết hợp là để phát huy mặt thống nhất, hạn chếmặt mâu thuẫn, để tạo thành sức mạnh tổng hợp.Vì vậy, kết hợp phát triển KT – XH với tăng cường củng cố QP – AN là một tất yếu khách quan. Tuy nhiên, mỗi lĩnh vực có quy luật phát triển đặc thù, việc kết hợp phải được thựchiện một cách khoa học, hợp lý, cân đối và hài hòa.
Về cơ sở thực tiễn:
-Trên thế giới, dù là nước lớn hay nước nhỏ, kinh tế phát triển hay chưa phát triển, dùc hế độ chính trị như thế nào thì mỗi quốc gia cũng đều chăm lo thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường, củng cố QP - AN, kể cả những nước chưa hề xảy ra chiến tranh và tăng cường QPAN thì rất tốn kém.
- Ở Việt Nam ta, sự kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường, củng cố QP - AN đã có lịch sử lâu dài. Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại, phát triển của dân tộcta :
+ Các triều đại phong kiến:
Từ xa xưa, cha ông ta đã đề ra kế sách giữ nước với tư tưởng: “nước lấy dân làm gốc”, “dân giàu, nước mạnh”, “quốc phú binh cường”. Thực hiện “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bềngốc”, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc để “yên dân” mà “vẹn đất”; thực hiện “ngụ binh ư nông”, “động vi binh, tĩnh vi dân” để vừa phát triển KT, vừa tăng cường sức mạnh QP để bảo vệ Tổ quốc.Khai hoang lập ấp ở những nơi xung yếu để “Phục binh sẵn, phá thế giặc dữ” từ xa.Phát triển nghề thủ công vừa sản xuất nông cụ vừa sản xuất ra vũ khí, phương tiện phục vụtoàn dân đánh giặc.Mở mang đường sá, làm thủy lợi để vừa phát triển kinh tế, vừa tạo thế trận đánh giặc, cơ động lực lượng
+ Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, do nắm vững quy luật và biết kế thừa kinh nghiệm của lịch sử nên đã thực hiện sự kết hợp phát triển KT - XHvới tăng cường, củng cố QP - AN một cách nhất quán bằng những chủ trương sáng tạo, phù hợp với từng thời kì của cách mạng :
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng đề ra chủ trương "Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc", "Vừa chiến đấu, vừa tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm";vừa thực hiện phát triển KT ở địa phương vừa tiến hành chiến tranh nhân dân rộng khắp;"Xây dựng làng kháng chiến", địch đến thì đánh, địch lui ta lại tăng gia sản xuất, với các khẩu hiệu như “Tăng gia sản xuất cũng là đánh Tây”
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, kết hợp phát triển KT với tăng cường , củng cố QP - AN đã được Đảng ta chỉ đạo thực hiện ở mỗi miền với nội dung và hình thứcthích hợp:Miền Bắc tiến hành cách mạng XHCN làm hậu phương lớn cho miền Nam đánh Mỹ, Đại hội III của Đảng đề ra chủ trương “Trong xây dựng kinh tế, phải thấu suốt nhiệm vụ phục vụ quốc phòng, cũng như trong củng cố quốc phòng phải khéo sắp xếp cho ăn khớp với công cuộc xây dựng kinh tế”Miền Nam tiếp tục tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng ta chỉ đạo kết hợp chặt chẽ giữa đánh địch với củng cố mở rộng hậu phương.Đây là sự linh hoạt, sáng tạo bảo đảm cho cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi trong 2 cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, là bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá cho thời kỳ sau.
Thời kì cả nước độc lập, thống nhất và đi lên CNXH, kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường, củng cố QP - AN được Đảng ta khẳng định là một nội dung quan trọng trongđường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN và được triển khai trên quy mô rộng lớn, toàn diện hơn. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng định: “Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng CNXH, chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ bảovệ Tổ quốc, luôn luôn coi trọng QP - AN, coi đó là hai nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặtchẽ”.Việc kết hợp phát triển KT- XH với tăng cường củng cố QP – AN đã và đang có nhữngchuyển biến cả trong nhận thức và tổ chức thực hiện, thu được nhiều kết quả quan trọng,phát huy được tiềm năng và sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốcXHCN trong thời kỳ mới.Tóm lại, kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường củng cố QP – AN ở Việt Nam hiện nay, là một tất yếu khách quan, có cơ sở lý luận và thực tiễn.
Rút ra ý nghĩa của sự kết hợp:
Từ mối quan hệ biện chứng giữa phát triển KT-XH với tăng cường củng cố QP-AN,chúng ta rút ra ý nghĩa thực tiễn thực hiện sự kết hợp, trong thời kỳ đẩy mạnh Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa đất nước và chủ động hội nhập quốc tế sâu, rộng hơn đó là:
+ Phát triển KT-XH là trọng tâm nhưng không phải bằng mọi giá mà phải luôn nêu cao tinhthần cảnh giác cách mạng, luôn tính đến và không làm ảnh hưởng đến QPAN.
+ Ngược lại không phải quá lo giữ QP-AN mà không dám mở cửa, bỏ lỡ cơ hội phát triển KT-XH trong xu thế hội nhập.
+ Phát triển KT-XH là để có điều kiện tăng cường củng cố, đầu tư cho QP-AN
+ Củng cố QP-AN là để tạo điều kiện môi trường hòa bình ổn định cho phát triển KT-XH,đồng thời bảo vệ thành quả phát triển KT- XH.
Liên hệ: Bản thân sinh viên cần nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của công tác quốc phòng an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Sinh Viên cần phải nỗ lực học tập và rèn luyện tốt để cống hiến sức lực và tri thức cho đất nước. Nêu cao tinh thần cảnh giác với các thế lực thù địch, không để những cám dỗ về vật chất tác động đến bản thân, làm suy giảm lòng tin vào Đảng, Nhà nước.
Giữ vững ổn định về tư tưởng chính trị, không để các thế lực thù địch có cơ hội dụ dỗ, lôi kéo. Đấu tranh phòng ngừa, phát hiện những âm mưu, thủ đoạn của cá thế lực chống phá.
Thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn và bản lĩnh chính trị, kiên định với đường lối xã hội chủ nghĩa, với lý tưởng của Đảng, với niềm tin của nhân dân. Thường xuyên nâng cao hiểu biết, nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Đóng góp hết khả năng của mình vào công cuộc phát triển kinh tế, xây dựng đất nước trong thời đại mới, hoàn thành tốt nhiệm vụ của một công dân, chấp hành nghiêm chỉnh quy định pháp luật của Đảng, Nhà nước.
Vận động nhân dân và người thân chấp hành các quy định của pháp luật, không tham gia vào các tệ nạn xã hội, không để kẻ xấu lợi dụng lôi kéo, làm suy thoái tư tưởng chính trị. Phát hiện, tố cáo các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật, làm nguy hại đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Tăng cường đoàn kết trong nhân dân, truyên truyền, làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ gắn bó giữa các dân tộc, tôn giáo, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vững mạnh và thế trận an ninh nhan dân vững chắc.
Cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, kiên định về tư tưởng, lập trường, ngăn chặn quá trình tự diễn biến, tự chuyển hóa trong tư tưởng, lối sống.
Xây dựng ý chí tự lực, tự cường và lòng tự hào dân tộc, phát triển kinh tế địa phương đi đối với giữ gìn văn hóa dân tộc và các giá trị truyền thống tốt đẹp.
Lời giải
*Trong vở
- Cảnh giác , tỉnh táo trước thông tin xấu độc trên các nền tàng MXH , không chia sẻ các viết mang nội dung chống mang phá Đảng , kích động , chia rẽ nội bộ toàn dân , lôi kéo mục đích chống phá. Đề phòng sự dụ dỗ của các thế lực chống phá như : Việt Tân , Hội đồng Dân quân cứu quốc” do các đối tượng khủng bố cầm đầu , các tổ chức chống phá núp bóng tổ chức phi chính phủ , các hội kêu gọi Dân Chủ của tàn dư chế độ VNCH , tránh xem và theo dõi kênh của các đối tượng chống đối , xuyên tạc như : Dưa Leo, N10TV , Lisa Phạm , Tân Thái , Benny Trương ,....
+ Phòng chống diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đổ không là trách nhiệm riêng lẻ của ai. Đối với bản thân sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường luôn ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình trong thời kỳ mới như sau:
+ Trung thành tuyệt đối Chủ nghĩa Mác-Lênin với đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà Nước. Bản thân luôn trau dồi và nâng cao ý thức, lối sống và trách nhiệm với xã hội, gia đình và bản thân. Học tập và rèn luyện theo tư tưởng của Hồ Chí Minh về cách mạng Đảng cũng như về sự nghiệp của thanh niên Việt Nam.
+ Trung thành tuyệt đối với Đảng và Nhà nước
+ Bản thân phải luôn nhận thức được việc học tập là một trong những yếu tố góp phần cho sự nghiệp không chỉ của riêng mình mà của cả xã hội. Học tập tốt để tạo nên nền móng vững chắc cho những nghiên cứu cũng như sáng kiến cho phát triển đất nước. Trung thực và không lười biếng, nỗ lực cho sự phát triển của bản thân cho xây dựng đất nước mai sau.
+Luôn nâng cao kiến thức và cập nhật thông tin, thời sự chính trị để nâng cao “sức đề kháng” với diễn biến hòa bình và bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Lên án và quyết đấu tranh với các luận điệu sai trái, xuyên tạc và lợi dụng kẽ hở của xã hội và Nhà nước để chống phá. Đặc biệt luôn nâng cao sự cảnh giác và bảo vệ bản thân trước những thông tin sai trái của phản động.
Chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước, tham gia tích cực vào các hoạt động tình nguyện để giúp đỡ và tuyên truyền ý thức tự giác, kỷ luật và xây dựng đất nước văn minh, giàu đẹp hơn. Bản thân có ý thức tự giác không bị lôi kéo từ các chiêu bài diễn biến hoà bình và các tệ nạn xã hội
+Trong thời đại, xu thế toàn cầu hóa hiện nay, thế hệ trẻ nói chung và bản thân nói riêng phải luôn nâng cao kiến thức về mọi mặt. Biết chọn lọc thông tin chính xác chuẩn và không tham gia các thông tin phản động và lôi kéo lối sống thực dụng. Cuộc cách mạng khoa học diễn ra nhanh chóng, bản thân phải là một phần nhỏ bé tạo nên những giá trị để xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển hơn.
Cùng toàn dân Việt Nam làm vô hiệu hóa chiến lược diễn biến hòa bình bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.
+Dù các thế lực có tung các chiêu bài khác nhau, thay đổi chiến lược như thế nào thì với một niềm tin bất diện vào Đảng Cộng Sản Việt Nam thì chúng ta sẽ chiến thắng. Đất nước sẽ luôn được bình yên và thịnh vượng.
Lời giải
Những giải pháp phòng, chống chiến lược "Diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ ở Việt Nam hiện nay
Mục tiêu
Mục tiêu của chiến lược “DBHB” mà các thế lực thù địch tiến hành ở Việt Nam là làm chuyển hóa chế độ XHCN ở nước ta theo con đường TBCN. Vì vậy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải làm thất bại âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “DBHB”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là:
+ Giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước, tạo môi trường hòa bình để đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước.
+Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc.
Nhiệm vụ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định phải kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược “DBHB”, bạo loạn lật đổ.
- Đây là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng và an ninh hiện nay đồng thời còn là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của Đảng và Nhà nước ta.
- Chủ động phát hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta, kịp thời tiến công ngay từ đầu. Xử lí nhanh chóng, hiệu quả khi có bạo loạn xảy ra và luôn bảo vệ tốt chính trị nội bộ.
Quan điểm chỉ đạo
- Đấu tranh chống “DBHB” là một cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc hết sức gay go, quyết liệt lâu dài và phức tạp trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Thực chất chiến lược “DBHB” mà các thế lực thù địch sử dụng để chống phá cách mạng nước ta là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc. Mục tiêu của chiến lược đó là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, làm sụp đổ chế độ XHCN ở Việt Nam và chuyển hóa theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản
- Chống chiến lược “DBHB” là cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng và an ninh hiện nay để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Xuất phát từ các thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt mà các thế lực thù địch sử dụng trong chiến lược “DBHB” với nhiều đòn tấn công “mềm” trên tất cả các lĩnh vực để chống phá cách mạng nước ta. Vì thế, Đảng ta đã xác định rõ nội dung bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay là toàn diện, coi trọng giữ vững an ninh, kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng.
Phương châm tiến hành + Kết hợp chặt chẽ giữa giữ vững bên trong với chủ động ngăn chặn phòng ngừa và chủ động tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “DBHB” của các thế lực thù địch. Từ đó phải nâng cao cảnh giác cách mạng, chủ động tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “DBHB” của kẻ thù nhằm chống phá cách mạng nước ta.
+ Chủ động, kiên quyết khôn khéo xử trí linh hoạt các tình huống và giải quyết hậu quả kịp thời khi có bạo loạn xảy ra, giải quyết các vụ gây rối, không để phát triển thành bạo loạn. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch bao giờ cũng chủ động chống phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, từng bước làm suy yếu từ bên trong và khi có thời cơ tiến hành lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực tế chứng minh, chủ động tiến công sẽ tạo thuận lợi giành thắng lợi trong chiến tranh nói chung và trong phòng chống chiến lược “DBHB”, bạo loạn lật đổ của kẻ thù đối với nước ta nói riêng.
- Xây dựng tiềm lực mọi mặt vững mạnh của đất nước, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân trong nước và quốc tế, kịp thời làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù đối với Việt Nam. , phải thường xuyên coi trọng xây dựng tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa- xã hội, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh về mọi mặt. Chú trọng tuyên truyền giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân lao động hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn cơ bản trong chiến lược “DBHB” mà kẻ thù sử dụng để chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Những giải pháp phòng, chống chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ ở Việt Nam hiện nay
Đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong xã hội, giữ vững định hưởng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực, chống nguy cơ tụt hậu về kinh tế
Muốn ngăn chặn, đấu tranh đạt hiệu quả, làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược "Diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của kẻ thù thì phải giữ vững sự ổn định xã hội và làm cho đất nước ngày càng vững mạnh về mọi mặt. Tệ quan liêu, tham nhũng được kẻ thù lợi dụng để khoét sâu mâu thuẫn nội bộ, kích động nhân dân lao động đứng lên biểu tình chống lại chính quyền địa phương, chống Đảng và Nhà nước ta, gây mất ổn định xã hội. Do đó, việc đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực, chống nguy cơ tụt hậu về kinh tế là giải pháp hữu hiệu để giữ vững và thúc đẩy yếu tố bên trong của đất nước luôn ổn định.
Nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nắm chắc mọi diễn biến không để bị động và bất ngờ
Chủ động nắm địch, phát hiện kịp thời những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch sử dụng để chống phá cách mạng nước ta có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Do vậy phải giáo dục rộng rãi trong toàn xã hội để mọi người dân Việt Nam, mọi tổ chức chính trị - xã hội đều nhận thức sâu sắc âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược "Diễn biến hoà bình" của kẻ thù chống phá cách mạng Việt Nam. Cần phải đấu tranh phê phán những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác cách mạng trong một bộ phận nhân dân, sinh viên trước âm mưu, thủ đoạn thám hiểm trong chiến lược "Diễn biến hoà bình" của kẻ thù chống phá nước ta hiện nay.
Xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc cho toàn dân
Đối với nước ta, bảo vệ Tổ quốc là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch lợi dụng sự sụp đổ của xã hội chủ nghĩa, ở Liên Xô và Đông Âu, Vì vậy, khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, củng cố nền quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và các thành quả cách mạng. Giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cho các tầng lớp nhân dân phải mang tính toàn diện, nhưng tập trung vào : Giáo dục tỉnh thần cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thủ chống phá đất nước ta ; quan điểm, đường lối của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới : tinh thần sản sàng xả thân vì Tổ quốc, quyết tử để Tổ quốc quyết sinh... hình thức giáo đục phải đa dạng, phù hợp với từng đối tượng
Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh về mọi mặt
Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh sẽ bảo đảm cho chế độ xã hội luôn ổn định, phát triển. Do vậy, phải luôn luôn chú trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh ; theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp nhân dân, mọi thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng, mọi miền đất nước ; đoàn kết trong Đảng và ngoài Đảng, Nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, phẩm chất, đạo đức, lối sống của đảng viên, năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng ở các cấp, nhất là ở cơ sở chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang ở địa phương vững mạnh
Xây dựng lực lương dân quân tự vệ, dự bị động viên phải rộng khắp ở tất cả các lãnh, báo, phường, xã, thị trấn, các cơ quan, tổ chức và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Phải chủ trong giải quyết đúng được mối quan hệ giữa số lượng và chất lương nhưng lấy chất lượng là chính. Ở địa phương, phải chủ độngtrong kết hợp phát động phong trào quân thung báo và an ninh Tổ quốc và xây dựng lực lượng vũ trang ở cơ sở, Quân chúng là nên tăng, là gốc rẻ của dân tộc, là đồng lúc chính để thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Vì vậy, quân chúng cũng là đối tượng để kẻ thù lợi dung, mua chuộc nhằm thất bại âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược "Diễn biến hòa bình" , bạo loạn lật đổ nhằm chống phá nước ta
Xây dựng, luyện tập các phương án, các tình huống chống "Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của địch Mỗi thủ đoạn, hình thức, biện pháp mà kẻ thù sử dụng trong chiến lược"Diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, cần có phương thức xử lí cụ thể,hiệu quả. Khi mỗi tình huống bạo loạn xảy ra, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị, xử trí theo nguyên tắc nhanh gọn – kiên quyết – linh hoạt – đúng đối tượng - không để lan rộng, kéo dài. Từ đó, xây dựng đầy đủ luyện tập các phương án sát với diễn biến từng địa phương, từng đơn vị, từng cấp, từng ngành. Hoạt động xử lí bạo loạn phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của chính quyền, các ngành, quân đội và công an làm tham mưu.
Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân lao động
Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hưởng xã hội chủ nghĩa thực chất là để tạo ra cơ sở vật chất, phát triển lực lượng sản xuất và từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đồng thời, là điều kiện để tăng năng suất lao động của xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân lao động, để tạo nên sức mạnh của theo trận lòng dân".
Những giải pháp trên đây có quan hè chặt chẽ với nhau, tạo thành một chính thể thống nhất nhằm đấu tranh ngăn ngừa âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược "Diễn biến hoà hình", bạo loạn lật đổ của kẻ thù sử dụng để chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay. Vì vậy trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ này không nên coi nhẹ hoặc tuyệt đối hoà một giải pháp nào.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Xem tiếp với tài khoản VIP
Còn 23/31 câu hỏi, đáp án và lời giải chi tiết.
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.